Giải đáp giúp nhẹ đầu
*
Cái gọi là Tiếng Việt chuẩn không phải nằm ở vùng nào mà nằm ở logic “nói sao viết vậy” hoặc “viết sao nói vậy”.
Logic này hình thành từ cách đánh vần của Tiếng Việt là đọc nối âm của từng chữ cái tạo nên một từ sẽ ra âm của từ đó.
Ví dụ: Từ “ba” tạo bởi 2 âm “bờ” và “a”. Đọc nối “bờ” “a” sẽ ra âm “ba”.
Nhờ quy tắc đánh vần có độ chính xác rất cao này (số ngoại lệ rất ít so với tổng thể) mà người ta có thể luận và viết ra các từ Tiếng Việt chưa nhìn thấy bao giờ chỉ bằng cách nghe nói. Điều này giúp người học đúng cách đánh vần và thuộc bảng chữ cái có thể học viết Tiếng Việt rất nhanh.
Không phải vùng nào cũng “nói sao viết vậy” hay “viết sao nói vậy”, có một sự chệch đi một chút hoặc nhiều chút ở nhiều nơi. Nhưng việc lấy quy ước có logic chặt chẽ đó làm chuẩn Tiếng Việt giúp người ta biết cách suy luận để kết nối âm nói với ký hiệu viết ra. Kết hợp suy luận logic đó với việc tham khảo báo chí, văn bản và văn chương có tỷ lệ đúng chính tả cao, người ta biết cách viết Tiếng Việt đúng chính tả chuẩn báo chí, chuẩn văn bản dù dùng phương ngữ nào.
Người ta hay nói giọng Hà Nội là giọng chuẩn không phải vì ưu tiên thủ đô mà vì giọng Hà Nội tuân thủ logic “viết sao nói vậy” hoặc “nói sao viết vậy” rất tốt.
Có người nghĩ người Hà Nội phát âm r/d hay s/x hay ch/tr giống hệt nhau nhưng không phải. Mỗi chữ cái khác nhau đều được phát âm khác nhau. Chỉ là người Hà Nội phát âm nhẹ đi một chút để đạt độ êm ái cho tai nghe hơn mà thôi. Đây là lí do mang tính thẩm mỹ.
Mỗi người có một cách phát âm nhưng nắm được một cái chuẩn ngầm là nắm được một quy tắc vàng để đạt tính chính xác cao trong văn bản. Văn bản chính xác mới dẫn tới đảm bảo được các quy chuẩn chất lượng trong công việc và mới hạn chế được lỗi đánh máy thiệt hại hàng trăm nghìn tỷ chứ :” D D
Bên cạnh đó, không có ai là vua chính tả hết. Những luận giải về gốc gác của từ khó mà đạt tính chính xác cao vì khó có thể biết một từ hình thành từ khi nào. Chưa kể, một từ, cụm từ hoàn toàn có thể biến đổi theo đời sống để nghe lọt tai hơn, mô tả sinh động hơn. Không nên luôn lấy từ điển nào đó ra đối chiếu để phủ định các từ, cụm từ vẫn được dùng phổ biến, nghe êm tai, hợp lí.
Những từ được dùng phổ biến và dễ hiểu là những từ tốt cho giao tiếp, không cần truy nghĩa gốc làm gì. Phần lớn những người nghĩ mình có thể truy nghĩa gốc hầu hết các từ chỉ đang ảo tưởng và nhiều trong các văn bản họ đưa ra chỉ là nguỵ biện.
Cũng nên chấp nhận nhiều cách viết như dạy/dậy, màu/mầu, vật lí/vật lý khi đông đảo người Việt vẫn phát âm và viết theo cả 2 cách, miễn là viết ra không gây hiểu lầm sang nghĩa khác. Ví dụ có thể tuỳ lúc chọn viết là “mầu” hay “màu”, “dậy” hay “dạy” để đảm bảo nhạc tính của cả câu hay hơn. Phải tôn trọng việc nhiều người tuỳ lúc chọn i ngắn hay y dài để đạt thẩm mỹ cao hơn cho mắt nhìn.
Vừa phải nhìn tiếng Việt ở logic của nó để đạt tính chính xác trong văn bản vừa phải hiểu sự khác biệt vùng miền, sự phát triển, biến tấu, tính thẩm mỹ và đặc biệt là nhạc tính của từ ngữ thì mới dùng tiếng Việt có hồn, có tiến hoá.