Nguyễn Đức Tùng phỏng vấn (nốt)
Nguyễn Đức Tùng:
Có một khái niệm quan trọng trong thơ là sự tiết kiệm chữ và sự nén lại các ý tưởng trong một cấu trúc toàn hảo nhất. Các nhà thơ Mỹ thường gọi điều này là “best words, best orders”. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Phan Cảnh, trong cuốn
Ngôn ngữ thơ
, dùng chữ tiến độ (tempo) để mô tả một khía cạnh của nó.
Đọc bài thơ trên, mặc dù rất thích, tôi không thể không tự hỏi: cách dùng chữ của anh có phải là một nhu cầu nội tại của bài thơ, hay đây là một dụng ý nhằm làm mới văn chương, hoặc thậm chí thách thức các giá trị đã hình thành của lục bát?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Vâng, nhu cầu nội tại. Dụng ý nghệ thuật, ý thức làm mới có lẽ đã thành một phần tiềm thức trong nhu cầu nội tại đó. Cách dùng chữ này đã đến với tôi cách đây khá lâu, hình như tôi tiếp nhận sự duyên dáng này của Bút Tre:
“Con ruồi là giống hiểm nguy/Tay chân của nó rất vi trùng nhiều”
và theo thời gian, gặp thêm các tác giả khác, nâng cấp dần. Trong tôi, trong nhịp sống này, trong cái tẩu hỏa nhập ma vừa đau khổ vừa phong phú thú vị của nó, trong cái nhu cầu viết vui vẻ hơn về những cái “nghiêm trọng” hàng ngày để tự chữa thương cũng như để phần nào mua vui cho độc giả buồn, cách dùng chữ như vậy là cái “Phải thế thôi”. Nếu độc giả thích đọc thơ buồn, thích đọc thơ khác lục bát, thích đọc thơ “cổ truyền” thì cũng có thể tìm thấy trong nhiều giai đoạn sáng tác của tôi.
Tôi nghĩ, cái quan trọng trong người làm thơ là duy trì dòng chảy của tính thơ, dòng chảy ấy vốn dĩ đã là sự lưu thông của sáng tạo. Những cái gọi là “giá trị cổ truyền” có tính thơ sẽ được nối dòng, bằng không, sẽ bị đào thải trong cuộc cạnh tranh lành mạnh: Tung tất cả ra dư luận, để độc giả tùy chọn. Vậy thì, cố tình thách thức để làm gì? Cái cố tình thách thức chỉ đáng khi nó cũng chất chứa tính thơ.
Tôi nghĩ “best words, best orders” cũng là một mệnh lệnh trong tiềm thức mình. Tất nhiên, tùy khả năng và mức năng lượng tại mỗi thời điểm mà thực hiện được hay không mệnh lệnh đó. Cụ thể với bài “WTO”, tôi nghĩ, mình thực hiện mệnh lệnh đó không tồi.
Tâm thức không có thiện cảm khi nhìn vào một khối văn chương dài/dày trong những người cuống lên vì nhịp sống trong bãi rác thông tin khổng lồ, tôi cũng có. Và đó là một thứ bệnh “chủ quan, bỏ sót” mà những nội dung mang tính thơ trong những hình thức dài đôi khi khiến mình đọc liên miên (Ví dụ: Cuốn
Cuộc đời của Pi
của Yann Martel,
Rừng Nauy
của Haruki Murakami do Trịnh Lữ dịch) dần chữa cho mình. Tuy nhiên, giữa rất nhiều người viết tài năng, trước những ưu thế của DVD, muốn được đọc, ngày càng cần ngắn gọn và súc tích hơn. Lại tuy nhiên, “take it easy” bằng cái hài hước và tỏ ra ngớ ngẩn cũng là một mệnh lệnh làm mới “nghiêm trọng” không kém 😛
Nguyễn Đức Tùng:
Anh có đọc lục bát của Bùi Giáng không? Và Đồng Đức Bốn? Còn Du Tử Lê thì sao?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Tôi có đọc, số lượng đọc của mỗi người theo đúng như thứ tự anh đưa ra. Cùng với Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Nguyễn Bảo Sinh, họ là những người tôi gặp trong quá trình nâng cấp cách viết lục bát. Nhưng nói chung, tôi vẫn đọc quá ít tác phẩm của họ. Tôi nghĩ, họ cũng như nhiều người viết khác, còn nhiều tác phẩm đáng được đọc.
Nguyễn Đức Tùng:
Cũng trong cuốn
Ngôn ngữ thơ
nói trên, tác giả viết : “Và chúng ta có thể phỏng theo cách Nguyễn Tuân “làm cho tôi món luộc, tôi sẽ nói cho anh biết thịt hàng anh như thế nào”, mà rằng “cho tôi xin một ít lục bát, tôi sẽ thưa anh có phải là nhà thơ thứ thiệt không”. Anh nghĩ sao?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Thú vị và có lí, nhưng bắt bẻ ra thì với những người không làm lục bát bao giờ hoặc không có kỹ năng làm thể loại này, “xem mặt bắt hình dong” thế nào? Tôi xin nhái lại câu này như sau: “Hãy cho tôi xem một hành vi/tác phẩm thơ của anh, tôi sẽ nói cho anh hay anh là ai”. Nói vậy cũng chỉ là chơi chơi thật thật, để biết một người là ai không dễ thế. Vấn đề là, tôi cho anh xem nhưng tôi có muốn/có biết cho anh xem cái hay nhất/tôi nhất của tôi không, có muốn/có biết chứng tỏ với anh rằng tôi là “thứ thiệt” không.
Nguyễn Đức Tùng:
Bài thơ của anh bắt đầu ra sao?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Bắt đầu từ một câu đột nhiên xảy đến khi đang không hoặc có ý định làm thơ. Câu thơ đó có thể được dùng làm câu đầu bài thơ hoặc ở một phần nào đó. Rồi từ câu thơ đó, mở đường đi tiếp trong một sự hầu như không có cấu trúc trước, vừa làm vừa cấu trúc. Ví dụ, bài thơ sau xuất phát từ câu thơ chợt đến, tả tương đối đúng tâm trạng của tôi lúc đó:
“oải vui như một buổi chiều”
, rồi tôi bịa tiếp lung tung.
Môi
oải vui như một buổi chiều
ở trong im lặng có nhiều lặng im
trong lặng im có tiếng chim
trong tiếng chim có tiếng im lặng và
một vài gam tiếng chim ca
và ta cóc biết rằng ta là gì
giờ cần quái gì hi hi
ở trong im lặng có mỳ tôm sôi
trong khi bạn đọc thơ tôi
ở trong bạn có đôi môi của từ
nó ăn từ thực từ hư
ăn no nó thả bạn như cánh diều
26.03.06
Nguyễn Đức Tùng:
Thơ anh có cái vẻ khơi khơi, bất cần mà đọc kỹ, lại rất tình cảm. Anh tạo ra được giọng điệu rất riêng (unique) này là nhờ đâu ?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Cảm ơn nhận xét của anh. Bên cạnh cái mơ hồ gọi là năng khiếu, bên cạnh một phần tính cách ít bộc lộ tình cảm trước đám đông của tôi, có lẽ nó là cái hoang mang giữa hai thái cực của “thơ mộng” khi mình ngày càng tiếp xúc với nhiều khía cạnh cuộc sống và các chiều thông tin hơn. Và có lẽ, có cả một chút cố gắng để vừa diễn đạt một trạng thái văn hóa nhập nhằng trong quá trình toàn cầu hóa vừa giữ mình không tẩu hỏa nhập ma bằng cách đùa với sự nghiêm trọng đó. Đó cũng là cách để cứu rỗi cái tôi tỏ ra thô cứng ngoài đời hòng che giấu sự bối rối, ngơ ngác.
Nguyễn Đức Tùng:
Đây có phải là bài thơ vừa ý nhất của anh không?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Không, tôi không có bài thơ vừa ý nhất, tùy tâm trạng. Nhưng nếu buộc phải chọn một bài thì nó cũng ngẫu nhiên như làm thơ, nhớ ra b
ài nào tự thấy hay, tôi chọn bài đó. Trong lúc này, đó là bài này.
Nguyễn Đức Tùng:
Dư luận trong nước đối với thơ anh ra sao ?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Tôi không rõ lắm, trên net thì tôi nhận được nhiều lời khen hơn chê. Có khi ý kiến khen chê của độc giả được đẩy về hai thái cực tuyệt đối. Với tôi, bị coi là điên, vĩ cuồng, vớ vẩn không đáng sợ bằng bị coi là thần tượng. Thú vị nhất là những khi mình sống trong dư luận về mình, mình thông cảm hơn với rất nhiều người sống trong dư luận, nhìn rõ hơn những hành vi thiếu đạo đức hành nghề trong báo chí; mình cũng nhìn ra rất nhiều cái thiển cận và xấu xí trong văn hóa phán xét của bản thân khi mình từng chỉ là dư luận. Không có dư luận, chắc tôi không thể nhìn ra những tính xấu mà mình giống nó. Bằng trải nghiệm trên chính mình, tôi thấy, con người dễ có nhiều hành vi rất xấu và lố bịch khi cố gắng tạo hình ảnh hiểu biết cho mình bằng cách hóng hớt rồi a dua phán xét/ngợi ca. Hình như phút giây đến với những tính thơ thực sự, mình nhìn thấy thêm nhiều cái xấu trong mình, thấy thêm những vẻ đẹp thường nhật và cách khai phá những vẻ đẹp ấy. Điều đó làm mình đỡ xấu xa hơn dù cái xấu trong mình còn rất nhiều và còn ở lại rất lâu.
Nguyễn Đức Tùng:
“Đùng đùng gió giục mây vần
Một xe trong cõi hồng trần như bay”
( Nguyễn Du )
“Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương “
( Bùi Giáng )
Ngôn ngữ dày đặc trong câu thơ trên và ngôn ngữ buông chùng trong câu thơ dưới thường làm tôi sửng sốt. Anh có mơ ước là một lúc nào đó lục bát Việt Nam sẽ quay trở lại chinh phục các ngọn núi lớn như nó đã từng?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Tôi chỉ ước mơ ngày càng có nhiều người có cuộc sống sung túc và có nhiều điều kiện thưởng thức nghệ thuật và bề dày của nó hơn. Lúc đó, được tự mình chậm rãi đọc thơ Nguyễn Du, Bùi Giáng… hơn. Rồi cái gì quay lại hay đi mãi, tùy duyên.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh thường đọc nhà thơ nào?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Tôi không thường xuyên đọc thơ. Một số người có những bài thơ, câu thơ tôi thích: Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Dần, Nguyễn Đức Tùng, Wislawa Szymborska, Yehuda Amichai, Vi Thùy Linh, Bùi Chát, Nguyễn Bảo Sinh, Phan Huyền Thư… Khá nhiều người nữa. Thường thì tôi không có ý thức học mà tôi được tạo cảm hứng và ảnh hưởng của những tính thơ tìm thấy. Nhiều nhạc tính trong những bài thơ tôi thích còn làm tôi thấy được giải tỏa.
Nguyễn Đức Tùng:
Nếu không phải là thơ thì anh thường đọc sách nào? Mối quan tâm lớn nhất của anh là điều gì?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Các thể loại văn học (cả truyện tranh). Với các thể loại khác như khoa học, kinh tế, tôn giáo, thiền…, tôi đang dần dần có lại cảm hứng đọc. Tôi quan tâm nhất là xây dựng một trạng thái mê sống lành mạnh đạt được bởi ngày càng có nhiều người chấp nhận và tận hưởng những sự phong phú trong đời sống, ngoại trừ sự phong phú đẫm máu.
Nguyễn Đức Tùng:
Xin cho nghe một bài thơ của một nhà thơ Việt Nam khác đương thời mà anh thích hay nhớ nhất. Xin nói về bài thơ đó.
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Khái niệm “nhất” của một sản phẩm cụ thể (trong phạm vi rộng lớn như một thời đại) hơi xa lạ với tôi. Một số câu thơ tôi thích:
Em chớp mi vào một cánh hoa tàn
Như chạm vào giới hạn
(Vi Thùy Linh)
tôi yêu những người đàn bà đang nà chuột jưới cống
(Bùi Chát)
Mê là mê cái mê của người
Ngộ là mê cái mê của mình
(Nguyễn Bảo Sinh)
Một bài thơ tôi rất thích:
Dưới cánh bướm mùa thu
về đậu vách tường đêm
những cánh rừng yên ngủ
Ở phía sau cánh cửa
ngồi khóc người đàn ông
Phía sau mặt trời hồng
có một vầng trăng khuyết
em từ từ trút hết
ánh sáng vào ngày anh
Phía dưới một bàn chân
có một bàn chân khác
đã giẫm ngày xuân xa
Từ trên vầng mây qua
một người vừa rơi xuống
Ở dưới mỗi gốc cây
xương một con chim nhỏ
Ở phía sau tờ giấy
có những chữ
còn bay.
(“Phía khác” – Nguyễn Đức Tùng)
Tính thơ trong bài này (hình ảnh, nhạc tính, ý tưởng, mạch cảm xúc) là trọn vẹn.
Nguyễn Đức Tùng:
Cám ơn anh. Con đường thơ Việt Nam hiện đang dẫn chúng ta về đâu?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Trước tiên, phải cho người đọc một góc nhìn toàn diện hơn về sự phong phú và tài năng trong thơ Việt và thơ nước ngoài để người Việt đỡ ghét thơ khi chỉ ghét cái mình lầm tưởng là thơ, đỡ yêu thơ theo cách như là ghét nó. Câu hỏi xin đặt lại là: Bằng sự kiểm duyệt (các nhà xuất bản) hoặc không tự kiểm duyệt (các bài post bừa bãi trên internet), các phương tiện xuất bản đang dẫn chúng ta về đâu?
Tôi thấy
talawas.org
,
tienve.org
,
gio-o.com
(và
evan.com.vn
thời Đinh Bá Anh) là những diễn đàn tiên phong, dù chất lượng chưa thực sự cao nhưng có những ý thức dung hòa giữa kiểm duyệt và tự kiểm duyệt. Nếu những diễn đàn này ngày càng chuyên nghiệp hơn, cũng như ngày càng có thêm những diễn đàn như vậy, tuyệt hơn nữa, nếu báo giấy cũng học được tác phong như vậy, đường thơ sẽ rộng mở hơn. Nghĩa là, phải có những địa chỉ giúp người đọc gặp gỡ những tác phẩm không bị ngăn cản một cách “cơ học”, chặn chỗ nọ, che chỗ kia, cũng không bị cái bừa bãi phong trào mạnh ai nấy xuất bản khiến cái dở ồ ạt thành rác đè lấp cái hay. Tạo ra những nơi vừa có sự tôn trọng các tác giả/tác phẩm vừa có một quota phát hành dựa trên năng lực các tác giả thì mới định hình được một con đường thơ tương đối sáng rõ cho người đọc chọn và đi trên đường đọc.
Nguyễn Đức Tùng:
Nhân anh nói về kiểm duyệt và tự kiểm duyệt, xin hỏi, theo anh, vai trò của các nhà phê bình thơ quan trọng hay không trong vấn đề này? Họ sẽ đ�
�ng góp cho sự phát triển của thơ Việt Nam ra sao?
Nguyễn Thế Hoàng Linh
: Về kiểm duyệt, tôi thấy các nhà phê bình thơ ở Việt Nam không tác động (được) mấy đến nó. Sức mạnh chống lại sự kiểm duyệt sai lầm thuộc về độc giả, những tổ chức nhân quyền và chính tác giả. Về tự kiểm duyệt, tôi nghĩ, các độc giả có những góp ý khiến người viết phải ý thức hơn về chất lượng cái mình viết ra là những nhà phê bình thơ. Về giá trị phổ biến, tôi thấy các nhà phê bình thơ chính thống có tiếng nói góp phần giúp thơ được tìm đọc nhưng không quan trọng bằng vai trò của các nhà sách và chính độc giả, nhất là những độc giả dùng internet. Chỉ cần những độc giả tìm thấy giá trị trong thơ của các tác giả, thông tin cho nhau, tập hợp lại những nhu cầu, chỉ cần các nhà sách nắm bắt được nhu cầu đó, có những chiến dịch tiếp thị những tác phẩm hay là tính thơ đã có nhiều cơ hội được phổ biến hơn. Vâng, “chỉ cần” :-), nhưng điều đó còn khả dĩ hơn rung đùi chờ xuất hiện những nhà phê bình thơ có thể làm phát lộ những tính thơ mà “tầm cảm thụ” của độc giả còn “dưới một level”.
Nguyễn Đức Tùng:
Nền văn học Việt Nam hiện nay, trong đó có thơ, có phải là một nền văn học lẩn tránh hiện thực không?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Tôi nghĩ là vẫn có đầy hiện thực trong các tác phẩm đương đại nhưng chưa có nhiều tác giả sâu sắc luôn hỏi “hiện thực là gì?”. “Hiện thực hiện tượng” hàng loạt cũng không khác gì đồng phục “mơ mộng sến”, sẽ mất đi tính thơ và tất nhiên, như thế, mất cảm hứng đọc của độc giả thực sự. Viết vốn dĩ là một sự chạy trốn rồi, chạy trốn (bằng sự giải tỏa) trước những tình huống nước đôi nhưng luôn bị ép phải chọn một.
Nguyễn Đức Tùng:
Thơ cần thiết cho ai?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Khi thơ là tính thơ, nó cần thiết cho tất cả mọi người, để người khác đọc tác phẩm của họ hoặc đọc chính họ. Chẳng ai muốn mình là người không có tác phẩm đáng đọc lẫn bản thân mình không đáng đọc, dù có là người yêu sự cô đơn và yên tĩnh chăng nữa.
Nguyễn Đức Tùng:
Các nhà thơ Việt Nam hiện đang thiếu điều gì? Theo anh, họ cần bổ sung điều gì ?
Nguyễn Thế Hoàng Linh:
Đã có những cuộc chạy trốn bằng ngôn ngữ với mơ hoa trăng rượu, có những cuộc chạy trốn bằng niềm tự hào quá lố trong một hiện thực khổ đau, lại có những cuộc chạy trốn bằng cách vén toạc bức màn nhầy nhụa sau mơ hoa trăng rượu tự hào hào nhoáng đó ra, cứ vén đi vén lại mà không ra lớp màn mới. Điều đáng sợ là khăng khăng cuộc chạy trốn của mình phản ánh toàn vẹn hình ảnh của cuộc sống hay đó mới là văn học đích thực. Tôi nghĩ, cuộc chạy trốn đa chiều của người viết có lẽ là: Mô tả, lí giải những cuộc chạy trốn, mở rộng các khả năng của nó, tìm các giải pháp vượt thoát nó bằng một năng khiếu ngôn ngữ khác ngôn ngữ tin nhanh. Miêu tả, kiến giải, phóng tác, đưa ra giải pháp là những kỹ năng tạo sự hấp dẫn của văn hóa và cái tươi mới cho tác phẩm trước những “độc giả xem DVD” ngày một khó tính. Để đáp ứng những đòi hỏi này, quá trình hoàn thiện của người viết không thể thiếu năng khiếu tưởng tượng, năng lực ngôn ngữ, kiến thức cũng như tư duy triết học. Những điều này, gấp cũng chẳng được. Cái cần gấp cho người sáng tác ở Việt Nam là điều kiện đảm bảo sinh nhai và sức khỏe. Thông tin, tri thức nhân loại thì đầy ra đấy rồi, tự mình phải lọc thôi. Tôi nghĩ, người viết chỉ đáng thầm tự hào khi nhận thấy “tính thơ của DVD này bắt nguồn từ tính thơ trong tác phẩm bằng chữ của tôi và song hành với nó chứ không thể thay thế hay làm lu mờ nó”. Còn lại, việc viết hàng ngày chỉ cần coi là luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, giải tỏa tức thời cho dễ sống và có cái đọc lại để nhìn lại mình; ai cũng nên làm thơ, viết văn là chỉ vì lẽ đó.
Nguyễn Đức Tùng:
Xin cám ơn anh. Hẹn gặp anh trong một lần trao đổi khác.
© 2006 talawas
Bài gốc đăng tại: wordpress ↗