TẠM TÊN LÀ KHÔNG TÊN
Tôi đang viết bài này như để trả lời mà như không trả lời bác Quan_Di_Ngo vậy.
Bởi vì, với ngộ nhận thiên tài trong một khoảng thời gian dài (và không chắc sẽ thôi) thì tôi luôn bị mình bắt mình ý thức cái mình viết phải hay. Dù không phải lúc nào cũng tuyệt vời nhưng không được nhạt nhẽo. Và đã đầu tư viết cái gì thì thường phải có tính khái quát cao, diễn đạt được nhiều cái riêng, cái chung.
Tôi bỗng được khơi dậy vài suy nghĩ nhớ nhớ quên quên trong tiềm thức từ một số không ít chi tiết trong bài viết của bác, thế là tôi lại viết. Cảm ơn bác.
Tuy lười đọc và không mê triết nhưng cũng có lúc tôi muốn đọc lại cuốn Giáo trình triết học Mác-Lênin do NXB Chính trị quốc gia phát hành. Để tìm hiểu tại sao người thì cho triết thuyết ấy luôn đúng còn người thì lại cho là nó đã quá lạc hậu. Thế là tôi cứ nhẩn nha đọc, tính mình đọc trước quên sau nên không dám nhận định nhiều. Tôi không biết nguyên gốc các tác phẩm của Mác-Lênin là thế nào. Nhưng với những phần đọc được từ cuốn giáo trình này, tôi thấy hầu hết nội dung được biên soạn với một tinh thần học thuật chân chính chứ không hề nguỵ biện hay mị dân. Tuy nhiên, tinh thần học thuật thôi chưa đủ, nhiệt tình cộng ngu dốt bằng phá hoại mà, phải có khả năng đạt đến học thuật nữa. Cái này tôi cũng thấy nội dung cuốn sách đạt được, ít ra là trong những phần trình bày về nhận thức; lí giải các qui luật tồn tại và phát triển của cuộc sống, con người. Mà cái này thì bất kỳ ai, đặc biệt là học sinh sinh viên cực kỳ cần nắm được. Mà nếu trí nhớ không lừa đảo tôi, thì hồi tôi còn học đại học, thầy giáo cũng chỉ tập trung dạy những phần ấy. Như vậy, không thể làm sinh viên tin vào những nội dung ấy ngu đi được. Từ những nhận thức ấy, người chịu tiếp thu sẽ được hình thành rõ rệt hơn một óc hoài nghi có tính học thuật tương đối. Chính Marx thích nhất câu ?oHoài nghi tất cả?. Cuối sách có đề cập đến một số triết thuyết khác như của chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Freud? và trình bày khá khách quan về ưu khuyết điểm của chúng nhưng hơi ít.
Còn những đoạn nói về CNXH hay CNCS hầu như không có hoặc chỉ nói đến một cách chung chung là xã hội hoà bình, công bằng, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc. Cuốn CHXH khoa học là một cuốn riêng, hay lí luận về xây dựng chế độ xã hội là vấn đề lớn mà để bàn cụ thể thì phải nghiên cứu kỹ bản gốc, dị bản? và có tinh thần trung thực. Cái này tôi chưa có hứng cũng như chưa đủ trình độ để đi sâu nên sẽ lắng nghe và suy ngẫm chứ khẳng định tốt xấu thì còn bỏ ngỏ. Bỏ ngỏ chứ không bỏ bê vì đây là một vấn đề lớn đời người phải đối diện. Nó là con đường bị/được chọn để đi của cả một dân tộc chứ có phải chơi đâu.
Tôi không cho rằng Giáo trình triết học Mác-Lênin hiện dạy cho sinh viên đại học là một giáo trình được biên soạn xuất sắc. Nhưng tôi tin nó là một trong những giáo trình có nhiều điểm tiến bộ và giá trị hơn nhiều sách khác biên soạn cho sinh viên. Nhân loại có vô số triết thuyết khác nhưng trước khi chúng được các nhà giáo dục Việt Nam đặt chúng cạnh triết học Mác-Lênin để người học được so sánh và tiếp xúc với sự phong phú của tri thức thế giới, thì cuốn giáo trình (quá ít chú thích) ấy vẫn là một cái đáng đọc và học. Việc đặt triết học Mác-Lênin bên cạnh các triết thuyết khác để giảng dạy tôi cho là một việc chắc chắn phải làm. Vì Mác-Lênin là người muốn điều đó nhất. Khi mà bản thân họ là một trong những người để viết nên học thuyết của mình đã phải là một trong những người nghiền ngẫm nhiều nhất các triết thuyết khác. Và là một trong những người bất bình vì được giảng dạy quá ít triết thuyết; hay trong giảng dạy, có quá nhiều thiên vị, bất công trong nhận định về các triết gia; cũng như lạm dụng, áp đặt tư tưởng của người đi trước mà thôi không tự suy nghĩ, tìm tòi một cách độc lập.
Có một điều dễ thấy ở Việt Nam là nhiều bản quyền tác giả hay bị nhập nhằng (cái này nhìn tình trạng đĩa lậu là rõ nhất) khiến dù có làm việc với một tinh thần trung thực thì bất cứ ai cũng dễ bị nhập nhằng theo khi phải xuất phát từ một nền tảng nhập nhằng. Nhưng một người đọc để tích luỹ tri thức thì trước tiên nên chọn lọc lấy cái hay; không vì chưa rõ nó là của ai mà không đọc. Tuy nhiên, người đọc cũng ít nhiều cần biết cái hay là của ai để biết ơn quá khứ. Vô ơn thì luôn dễ bị quả báo từ thế hệ sau. Cái của ai vào với ai này thì không phải là nhà nghiên cứu nên đành hy vọng vào tìm tòi và năng lực của những nhà nghiên cứu lịch sử, lịch sử triết học.
? (ba chấm này là để chuyển đoạn, không phải bị kiểm duyệt, away)
Để viết sơ sơ về cái khái quát, cái riêng cái chung, tôi phải viết một đoạn mào đầu khá là dài như vậy. Tôi không cho rằng nó lạc đề khi post vào đây. Tôi không nghĩ cứ phải đọc Mác-Lê mới làm thơ hay được nhưng làm thơ theo đúng nghĩa là luôn phải mở mang. Và Mác-Lê là một trong những triết thuyết quan trọng cần cập nhật.
Một lần đọc lướt cuốn giáo trình, tôi chợt dừng lại và rất thích thú đoạn nhận thức thoạt nghe có vẻ vô lí về cặp phạm trù ?ocái riêng cái chung? (trong 6 cặp phạm trù) của Mác-Lênin, đại ý là:
===========
Cái chung là tập con của cái riêng. Trong cái riêng có cái chung bởi cái chung thì ai cũng có nên suy ra cái riêng nào cũng có. Còn cái riêng thì là cái riêng nên không phải cái chung nào cũng có.
===========
Sau mỗi đoạn trình bày về nội dung, ý nghĩa của các cặp phạm trù thì cuốn giáo trình ấy bao giờ cũng có một kết luận là chúng có liên hệ khăng khít mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau đồng thời phủ định lẫn nhau. Thế nên không thể tách rời chúng, cũng không thể coi thường cái nào hơn cái nào.
Tôi mê nhất triết học Mác-Lênin ở điểm ấy. Sự biện chứng không nguỵ biện trong nhận thức.
Tôi không hiểu sao khi ứng dụng triết học Mác-Lênin vào đời sống người ta lại hay tuyệt đối hoá mọi thứ, hoàn toàn trái ngược với tinh thần của triết thuyết này mà lại cho là mình nắm vững nó. Tôi cho rằng lối tư duy biện chứng mà Mác-Lê sử dụng rất sát với thực tế. Và nhận thấy những người dù không đọc hoặc không thích Mác-Lê mà tư duy luôn mở rộng cũng có ít nhiều điểm chung với phong cách tư duy ấy.
Hãy cùng suy ngẫm một chút về cái riêng cái chung. Cụ thể hơn là nhận thức tập thể và nhận thức cá nhân.
Nhận thức tập thể: Nhìn quả cam cùng nhận định: A, quả cam. Bật cười vì sự đồng thanh này kiểu như tư tưởng lớn gặp nhau. Nhưng lần nào thấy quả cam cũng hô lên: A, quả cam thì sẽ nhàm chán nhau khủng khiếp.
Nhận thức cá nhân: Nhìn quả cam, mỗi người nhận định một kiểu: Hình tròn, Màu vàng, trái đất phủ chất độc màu da cam, những vòng xoắn, thực phẩm nhiều vitamin, cái mà Trần Quốc Toản bóp nát?
Hệ thống tư tưởng của Mác-Lê phần lớn sinh ra trong thời loạn lạc. Các ông thực sự cần tìm con đường cho đấu tranh trước tiên. Nên để có một hệ thống lí luận về nghệ thuật, sáng tạo xác thực thì tôi không cho rằng họ đủ quá vĩ đại để thâu tóm được nốt. Cái điều này, người đời sau, suy nghĩ biện chứng theo Mác-Lê, có lẽ phải rõ hơn ai hết. Và phải tự lực hơn ai hết.
Trong sáng tạo nghệ thuật, nhận thức cá nhân đặc biệt quan trọng, nó làm nghệ thuật trở nên phong phú. Rất dễ hiểu, mọi người đều thể hiện nhận thức, cảm quan riêng của mình về thế giới rồi cùng chấp nhận (cái không phản nghệ thuật của) nhau thì mỗi người khi chiêm ngưỡng nghệ thuật sẽ được diện kiến những góc nhìn khác nhau của người khác mình về cái chung với mình: Thế giới. Tôn trọng nghệ thuật chính là tôn trọng cái riêng trong mỗi con người.
Nhưng không phải cứ cố làm ngược với người khác là thành nghệ thuật, nó đòi hỏi khả năng thiên phú và cả sự tự nhiên trong nhận thức. Người sáng tạo nhiều khi là thực thể sinh ra đã bị khác biệt chứ không phải tự khác biệt. Tôi không gọi đó là định mệnh (không phải vì tôi vô thần hay tôi bị/được ảnh hưởng của Mác-Lê), tôi gọi đó là xác suất ngẫu nhiên và có lí mà tạo hoá ban tặng cho sự tồn tại của loài người. Nhưng khi đã muốn thành người sáng tạo thực thụ thì người sáng tạo phải biết thấy thú vị vì mình đã được khác biệt, dù khi tri thức loài người còn thấp họ luôn vô thức hoặc có ý thức vùi dập cái mới hơn họ. Và từ cái khác biệt bẩm sinh ban đầu (dần dần cũng rất dễ bị hoà lẫn với cái tầm tầm khuôn đúc do tồn tại với tư cách thiểu số đâu phải dễ) người sáng tạo phải tự ý thức luôn khác biệt trong sáng tạo. Tôi nhấn mạnh, trong sáng tạo. Người sáng tạo tôi dùng ở đây với nghĩa chuyên nghiệp, tức là lao động chuyên môn và chuyên tâm trong (ít ra là) một công việc đòi hỏi xu hướng phát triển. Ngoài ra, bất cứ ai, trong đời chẳng ít nhất một lần sáng tạo: Một câu nói hay, một cách chế biến món ăn mới hay tìm được một con đường tắt đến trường?
Sáng tạo (đặc biệt là bằng ngôn ngữ) nói chung là một công việc cô độc. Nhưng bởi sáng tạo chân chính không đơn thuần là một trò chơi mà một công việc vất vả (mà bất cứ một tri thức tiến bộ nào cũng hiểu đó là điều quá đỗi hiển nhiên) nên người sáng tạo dù năng lực cao đến đâu cũng không thể sáng tạo 24/24. Đó là một sặp đặt có lí của tạo hoá, người sáng tạo không được/bị sống mình mình vĩnh viễn. Anh ta còn có khoảng ngưng sáng tạo để không nhàm chán chính nó và tạm trở thành một kẻ sáng tạo nghiệp dư trong mỗi hành vi sống với loài người. Rồi anh ta lại đơn độc tác chiến. Chiến mệt thì lại sà vào vòng tay con người. Cứ thế mà luân hồi.
Đấy, sáng tạo mà được như thế là hạnh phúc. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy, lúc anh ta cần sà vào vòng tay tập thể thì nhiều tập thể lại chả đá văng anh ta ra như một chú cún ghẻ ấy chứ. Thôi, tôi đừng bênh tập thể vội, nhìn vào GDP của kẻ sáng tạo thực thụ là mọi điều cần chứng minh đã được chứng minh.
Cái nhận thức tập thể trong sinh hoạt của đời sống là rất cần thiết. Nó giúp người ta có thể hiểu ngôn ngữ thường ngày của nhau dễ dàng và ứng xử với nhau nhanh và nhiều hơn là cứ dò dẫm suy ngẫm để hiểu nhau. Không thể cứ cố làm dáng để cái gì cũng thành sáng tạo như ?ođưa cho tôi cái đũa? thì nói thành ?ogive ngộ a đua ngã?. Cái đó làm cuộc sống trở nên rườm rà và mất thời gian. Chính tác phong tập thể sẽ giúp cá nhân bớt sa đà vào cái thói quen sáng tạo kiểu ấy. Mà đã thành thói quen thì khó có thể gọi lâu là sáng tạo.
Một cá nhân sáng tạo và có bản lĩnh là một cá nhân tư duy theo nhiều hướng, biết tự phê bình, bào chữa, trừng phạt cũng như tha thứ cho bản thân mình. Trong những cá nhân như thế, chứa đựng cả một tập thể biết đùm bọc nhau và cũng biết chỉ ra cái sai của nhau và cùng khắc phục để phát triển. Nhưng như một sinh vật, nó vẫn cần hơi ấm tha nhân.
Còn một tập thể a dua và lười suy nghĩ thực chất chỉ là một cá nhân. Bởi ngoài nó ra, nó chả biết và chả chấp nhận cái gì khác lạ. Khi ấy, nó thực chất là một cá nhân tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, cái mà nó cho là nó căm thù.
Một tập thể chỉ là tiến bộ khi nó là một tập thể biết dung dưỡng những cá nhân sáng tạo, trao đổi và cập nhật tư duy tiến bộ của những cá nhân như thế. Việc đó sẽ tạo nên những rung động sâu sắc. Cùng lúc sẽ giúp bóc tách những rêu phong nhàm chán không rung động trong quan hệ theo thói quen đều đều bị ngộ nhận là đạo đức.
?
...ngày mai sẽ nở hay tàn-nghe đi em tiếng bầy đàn xôn xao...
Được away sửa chữa / chuyển vào 18:49 ngày 23/03/2004
Bài gốc đăng tại: ttvnol.com ↗