Trích một bài phỏng vấn:
- Thơ phải là sự hài hòa giữa văn chương thị giác - văn chương ngữ nghĩa, tinh kết những hiện tượng vụn vặt trở thành sự sâu sắc. Linh làm thế nào hòa quyện được hai điều đó?
- Tôi chịu khó quan sát những thứ xung quanh. Phần nữa là tôi sớm có các câu hỏi siêu hình. Từ khoảng 10 tuổi, trong tôi thỉnh thoảng xuất hiện những câu như: ngoài trái đất là vũ trụ, thì bên ngoài vũ trụ là gì? Như vậy là ngoài giới hạn luôn có thứ khác, bất tận? Hoang mang phết. Từ đó nảy sinh ra những câu như: Bất tận thế thì còn đúng sai không? Nhưng mình bị giới hạn trong 100 tuổi và mình nhỏ bé, mình có bất tận đâu, chắc vẫn cần đúng sai? Nhưng mình và xung quanh có thật không? Có phải mình đang tưởng tượng ra mọi thứ xung quanh? Hay mình đang là tưởng tượng của ai đó? Mặt khác, vì hồi đó nhà ở cạnh cánh đồng, chạy nhảy nhiều, tôi thấy hơi thở của cuộc sống bên ngoài sinh động, rất thật. Điều đó làm cho các suy tư thành nhẹ nhàng, những băn khoăn giống một trò chơi thú vị hơn. Những thứ đó chảy vào thơ khá tự nhiên.
Tôi cũng tiếp thu được từ nhiều người khác. Sách của Milan Kundera dạy tôi nhiều thứ. Nhưng ông không có cái nhố nhăng tuyệt hay của Bùi Giáng. Cái điên của Bùi Giáng là cái đùa. Cũng có thể có phần điên thật lúc này lúc kia nhưng là đó cách tốt nhất để một người hiểu biết như ông tự giải thoát khỏi chiến tranh. Nhờ thơ Bùi Giáng mà nền văn học ưu sầu của Việt Nam vui hẳn lên.
- Anh nghĩ sao, nếu không ít người cho rằng thơ anh chỉ dùng để đọc một lần, giống như câu chuyện “nhảm”, người ta thấy thú vị, nhưng chẳng thuộc và cũng chẳng ai đi tặng nhau, chép thơ để chinh phục trái tim ai.
- Ở đây, không bàn chuyện những người đọc lớt phớt. “Không ít người...” chiếm được bao nhiêu phần so với những người thực sự thấy giá trị của các tác phẩm đó. Tôi dùng từ “chiếm” là bởi họ đang dùng sự ngu dốt để đánh chiếm. Ngôn từ giản dị được rèn từ siêu hình hiện ra khá rõ ràng mà. Có lẽ họ không tìm kiếm cái hay ở thơ, họ chỉ muốn nói lên cái dở họ muốn thấy để yên tâm không phải tìm đọc.