VẦN VỚI CHẢ KHÔNG VẦN
thơ vần không phải cổ hủ
thơ không vần không phải phóng đãng
chỉ những quan niệm cho rằng thơ phải vần hoặc cho rằng thơ phải không vần mới là vừa cổ hủ vừa phóng đãng
cổ hủ ở chỗ tự nhốt mình vào một phòng
trong ngôi nhà có lớn hơn (hoặc bằng) hai phòng
phóng đãng ở chỗ cho mình quyền ru rú ở phòng này
nguyền rủa (những) cái phòng kia
dù chưa từng hiểu bên trong (chúng) nó là gì.
là thơ
không phải ?ocũng là thơ?
vì ngay tại cái căn phòng mà anh định cư
anh đâu đủ chất thơ trong hồn để biến nó thành thơ
thơ là căn phòng không người ở
dù trong nó cũng như trong trái đất này
toàn người là người
lạ là
đến thời đại này
còn có những người lợi dụng khái niệm vần/không vần
để tạo nên những đường biên giới gai góc
những bức tường trên da thịt thế giới thơ vô biên
mà vẫn có người tin
lạ là, những cái điều tưởng như cũ rích này mà đôi khi vẫn mới... ngay trong văn giới... mảnh đất ít người chân lấm tay bùn cày xới? nhiều người ngồi trên bờ í a í ới? đến lúc ăn thì cũng cho tớ ăn với? nhìn đủ hạng người chén cùng mâm người vô tâm ngó qua bảo nghệ sỹ gì mà trông thằng nào cũng như Trư Bát Giới... nhiều chàng thấy người ta chỉ trỏ từ xa lòng vui phơi phới... ít chàng lặng lẽ nuốt mắt ngước lên vùng cao chới với? mà chả cần biết có bao giờ bay tới? (?ochàng? cũng có thể thay bằng ?onàng? hoặc các giới khác liên đới)
21.09.03
Nhân tiện: Vào tháng 12/2002, tôi được tặng cuốn ?o26 nhà thơ Việt Nam đương đại? xuất bản tại Nhà xuất bản Tân Thư-Hoa Kỳ. Đọc lai rai cho đến giờ: tháng 10/2003. Trong những ngày đầu tiên, đọc lướt lướt, nói với một người bạn rằng: ?oKhông thích lắm?. Người bạn hỏi: ?oSao mà không thích?? Chỉ đáp được rằng: ?oMới cảm thấy thế, còn phải đọc nữa?. Khoảng vài tháng sau thì nói: ?oTrong đó thích nhất thơ Thận Nhiên??. Cuốn sách đó lúc thì để đầu giường, lúc lại để trên nóc vi tính để giới thiệu với bạn bè trên mạng một số bài để thử xem họ có thích một không khí mới, lúc thì cho vào hộc tủ cùng chăn nệm, lúc thì bỏ lên cái giá sách toàn truyện tranh. Cứ bẵng đi một thời gian, giở ra đọc lại lại thấy gần như đọc lần đầu. Tí ta tí tách như nước rỏ xuống đá. Từ đọc lướt một mạch cho đến đọc một vài tác giả, cho đến đọc từng tác giả, cho đến đọc một vài bài cho đến từng bài. Có thể nói tác phẩm hầu như không có mấy câu thơ vần này đem lại cho tôi thêm một số cảm hứng và sự thay đổi thái độ trong cách đọc thơ. Thường thì vì bị cảm giác mỗi lần mua báo, giở trang văn nghệ ra đọc, luôn cảm thấy thất vọng mà thành thói quen đọc vèo vèo vèo. Dành cho mỗi bài (gọi là) thơ độ khoảng 15 giây. Nếu thấy có ý nào thú vị thì đọc lại. Bằng không thì chán, bỏ qua. Tôi theo phản xạ có điều kiện, áp dụng thói quen đọc lướt vào tác phẩm này và cũng có cảm giác tương tự. Dù có thiện cảm hơn một chút. Vì dù sao cách gieo chữ và hình ảnh vào chữ và một số cái khác đối với cảm quan tức thời cũng không đến nỗi cũ. Rất may là tôi mới hình thành được một thói quen khá thận trọng về thái độ đối với cái mới: Có một chút gì đó mới thì có nghĩa là có thể nó còn có các giá trị khác. Có thể đọc tiếp, đọc lại.
Bài học cẩn thận trong việc ?ophán xét? này được rút ra từ những lúc nhớ lại thái độ không mấy thiện cảm với thơ tự do từ hồi cấp hai khi học văn. Đó là những lần đầu tiên gặp những bài ít vần hoặc gieo vần, đặt chữ là lạ như ?oTiểu đội xe không kính? của Phạm Tiến Duật hay ?oĐồng chí? của Chính Hữu. Mà trước đó là những thơ Đường luật, ca dao, tục ngữ, thơ lục bát, song thất lục bát, Truyện Kiều? Và cách giảng dạy của giáo viên dù có thể hay ở những khía cạnh nào đó nhưng thiếu sót ở chỗ không thấy hoặc không làm cho học sinh thấy được rằng thơ không phải lúc nào cũng cần quá câu nệ về vần. Và cũng không thuyết phục được học sinh thích thú trước các luật bằng trắc? của thơ vần. Phải mất vài năm tôi mới để ý thế nào là thanh bằng, thế nào là thanh trắc. Và quả thực cho đến giờ cũng chưa một lần có ý định học thuộc lòng các khái niệm niêm luật trong thơ lục bát hay thơ Đường. Cho đến năm lớp 11-12, khi mà phải ôn thi vào đại học một cách khá nghiêm túc tôi mới bắt đầu lơ mơ biết phân tích một bài thơ mang tính trí tuệ trong (hoặc ngoài) sách giáo khoa và cảm thụ nó một cách lí tính, độc lập với sự giảng dạy hơn. Trước đó, từ nhỏ, tôi vẫn thường thích đọc ké các cuốn sách giáo khoa văn của các anh chị học trước 5, 6 năm. Nhưng hóa ra là vì trong đó có truyện. Còn với thơ thì mù tịt, thậm chí còn có ác cảm. Tuy nhiên, khi được đọc các tác phẩm ?okinh điển? của các thể loại này trong sách giáo khoa hoặc nghe hát ru hoặc nhiều nguyên cớ khác, tôi viết được chúng từ khá sớm và không mấy khi cảm thấy khó khăn trong lúc ghép vần. Đó là một lí do mà tôi cảm thấy thơ vần có một giá trị gỉ thấm và là một bước luyện ?ođứng tấn? quí báu để người ta tiếp tục các bài ?okungfu? thơ. Và gần đây cảm thấy thêm rằng thơ vần thì nhiều, ngồn ngộn, nhiều lúc kích thích ý tưởng rất tốt, nhưng linh hoạt, ?onước chảy mây trôi? trong ?ocái cũi? vần điệu thì cũng không có nhiều người. Vì thế nên chán lây sang cả thơ vần của mình, ngán đi tìm trong hàng trăm hàng chục bài để lọc ra chỉ vài bài đọc thấy thích. Có vẻ khoái đổi món sang thơ tự do. Nhưng lúc gặp những bài thơ vần hay vẫn không cảm thấy ngấy cái sự vần. Đơn giản là vì sẽ thú vị hơn nhiều khi người nghệ sỹ tài năng chui vào ?ocái cũi? vần tồn tại bao đời mà vẫn khiến cho độc giả thấy người đó hoàn toàn tự do. Người ta say mê ngắm anh ta biểu diễn mà quên béng những chiếc song sắt của âm luật, vần vò? ở ngay trước mắt.
Đọc đến gần nửa năm thì tôi mới bắt đầu thấy thích nhất không phải là thơ Thận Nhiên nữa mà là thơ Nguyễn Đức Tùng (lúc đó tôi mới phát hiện ra vì tác giả nằm ở gần cuối sách). Mặc dù tác phẩm được giới thiệu chung là ?okhó đọc theo nghĩa đen hoàn toàn? nhưng thơ Nguyễn Đức Tùng, Phan Huyền Thư, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Văn Cầm Hải? đọc vẫn gợi những đường cong rất nét của âm nhạc, có nhiều giai điệu êm dịu hẳn hoi (xin không mất công bẻ bai một kẻ dốt nhạc như tôi vì cách ví von chơi này). Đây là một sự thú vị mà tôi phải cảm ơn tác phẩm khi nó giúp tôi phát triển thêm cơ chế đọc của não nơi mà vượt qua được các sự trúc trắc, khó khăn của việc phát âm qua miệng. Với tôi, chỉ viết với tư cách độc giả, tác phẩm nói chung không phải là tuyệt hay hoặc quá mới lạ nhưng không thể chối nó hay và ít nhiều giúp mở rộng thế giới quan. Có thể nói cuốn sách 303 trang giá 20 USD đó cũng là một cái gì đó nhiều giá trị để khám phá trong so sánh với những ấn bản trong những năm quanh quẩn đây. Có cái là lạ là: Vì thơ ít vần (cũng cả tại tôi nhớ tồi) nên đọc xong, để lâu lâu đọc lại như chưa đọc hoặc nhớ ý nhưng khó thuộc lòng nổi nếu không định học thuộc lòng. Ban đầu đọc, ngoài một số giọng điệu ấn tượng thì không nhớ ai vào với ai. Càng đọc lại càng thấy thêm những bài thơ không đơn thuần là những sự chắp vá, lắp ghép từ ngẫu hứng (như một định kiến nào đó trong đầu) mà còn chứa nhiều những sự ráp nối lôgic của ý tưởng. Và những ẩn dụ cũng không phải cố tình ỡm ờ làm dáng mà chỉ là cách ẩn dụ của nghệ thuật. Đọc kỹ, chầm chậm sẽ hiểu dù khó có thể hiểu hết từng câu cũng như từng chi tiết. Cái này còn đòi hỏi một hiểu biết rộng về văn hóa, lịch sử. Chỉ dám phát biểu chung chung và sơ sơ như vậy vì để gọi là đọc kỹ thì vẫn chưa.
Đã không còn cái thời với quan niệm ?ovăn tải đạo? mới là nghệ thuật chân chính. Nhưng cảm giác như cuốn thơ vẫn quá thiếu vắng tính nhân văn, những tư tưởng thú vị để tạo sự kết nối, hiểu nhau hơn. Nặng về coi nghệ thuật là một cái gì đó luôn chết chóc?, luôn đơn độc, thất bại. Cái mật độ này dầy hơn mức để thấy lạ và làm giảm sự phong phú về cảm quan. Như thể tính nhân văn bị phần đông tác giả tẩy chay sau những cảm giác chán ớn trước thói đạo đức giả trong ngôn ngữ của những tác phẩm bị/được? ?ochụp mũ? nhân văn. Nhưng không hiểu nhiều tác giả đương đại có biết hoặc nhớ câu: ?oĐạo đức đích thực bất chấp đạo đức? của L. Paxtơ không. Đôi lúc trong tác phẩm, có những thử nghiệm dùng năng lực để biến cái ?ovô văn hóa? thành nghệ thuật nhưng thường là thất bại trong việc lột xác. Thất bại là chuyện bình thường, nhưng nó lại khiến thuật ngữ ?ovô văn hóa? rớt trở lại, cũng là một cái giá, cái trách nhiệm mà người dám dấn thân chấp nhận. Nhiều khi sự ?otẩy chay? đạo đức trong tác phẩm không khiến nó trở nên vị nghệ thuật hơn mà thực chất lại bó hẹp tính phong phú của nó vì đạo đức (hay bất cứ cái gì chăng nữa) cũng là một khía cạnh không nhỏ của nghệ thuật. Khi người ta ngây ngấy ?ocái cũi? của đạo đức cũng như ?ocái cũi? của thơ vần, nó không chắc là một sự cách tân hay sáng tạo. Mà có thể lại là sự không đủ bản lĩnh nghệ thuật để vượt thoát được những ám ảnh giống nhau về đời sống, cố ý hoặc vô thức lấy sự bảo thủ để ?otrả thù? những sự bảo thủ. Hoặc sợ hãi không dám khai thác, giải phóng những cái mới còn bị giam hãm bằng cách nhảy vào hang ổ nguy hiểm của những cái đã cũ.
Xin mời xem thêm giới thiệu cụ thể và chuyên nghiệp về tác phẩm ?o26 nhà thơ Việt Nam đương đại? của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc tại đâu đó trên mạng (bây giờ tìm lại mãi không ra, gõ từ sách ra thì ngại).
Và một số tác phẩm, tác giả trong đó tại:
...ngày mai sẽ nở hay tàn-nghe đi em tiếng bầy đàn xôn xao...
Bài gốc đăng tại: ttvnol.com ↗