← Tác phẩm
Tùy bút · Sáng tác: 10 tháng 2, 2009
JCTS (6)
Ảnh: Một người ở ga Bằng Tường. Thứ sáu , tôi công nhận các bạn là những thanh niên rất yêu nước nhưng ..thiếu hiểu biết, thiếu tính tự tôn dân tộc. Các bạn biết rõ lịch sử các đời vua Trung Hoa hơn chúng tôi. Sống ở Việt Nam mà tôi cảm thấy rất gần gủi như ở nhà vì ở đâu trên đất nước bạn tôi cũng thấy dấu ấn Trung Hoa (nếu bỏ qua nét Hàn Quốc nữa... thì phần còn lại là Châu Âu hoặc Mỹ, khó mà tìm thấy nét Việt Nam trong đời sống giới trẻ các bạn). Trong một đoạn ngắn bạn viết có khá nhiều vấn đề với một số khái niệm (những khái niệm ám ảnh và làm loạn thần, loạn trí không biết bao người, trong đó có tôi) nên đành phải dài dòng một chút. Về lòng yêu nước và tự tôn dân tộc Yêu nước hay tự tôn dân tộc là những khái niệm mù mờ trong chính cách nói của bạn. Nhất là nếu theo cách yêu nước hay tự tôn của bạn từ đầu đến giờ, nó gắn với niềm tự hào về đặt ách thống trị hay đồng hóa. Nếu chúng là giá trị được tôn vinh nhất thì nó đồng nghĩa với coi “cá lớn nuốt cá bé” là phương châm sống cao cấp nhất. Chấp nhận luật rừng đó thì là trở lại sống như cầm thú, mọi lí lẽ đều trở nên thừa thãi, giả dối. Nhưng rõ ràng, không phải ai cũng tin vào luật rừng và sống như thế. Khó có ai thích chính những người thân yêu của mình đáp trả mình bằng luật rừng. Đó là lí do mà nhiều kẻ tàn bạo, nhiều tên độc tài cũng phải biết chùn tay. Bạn cũng có thể thấy trong lịch sử của vô số các quốc gia, việc lạm dụng những khẩu hiệu như “tự tôn dân tộc” hay “lòng yêu nước” để đẩy con người vào chiến tranh, thù hận hay ảo tưởng tự ve vuốt làm ì trệ trong vũng lầy nghèo đói, dân trí thấp thường xuyên xảy ra. Như vậy là nhiều kẻ đang bằng những khẩu hiệu đó, hủy hoại và tàn phá nước khác hay chính đất nước mình. Ở những con người, những khu vực phát triển về cả chất lượng cuộc sống lẫn ý thức, người ta ủng hộ sự tự tôn bản thân từ rất lâu rồi. Nhờ đó, họ không bị loạn trong những khái niệm mù mờ mỗi người hiểu một kiểu như “tự tôn dân tộc” hay “lòng yêu nước”; mà khi truy hỏi cặn kẽ, sẽ lại vấp vào sự lúng túng “chúng tôi là chúng tôi nào, các bạn là các bạn nào” của việc nhân danh hay yêu một cái danh quá chung chung. Sự tự tôn giá trị của bản thân một cách lành mạnh sẽ giúp bạn có thể rạch ròi, sòng phẳng chính bạn đã làm được gì cho mình, đóng góp được gì cho cuộc sống xung quanh, giữ phẩm giá của mình như thế nào. Những con người ý thức được như thế và làm tốt việc của mình sẽ làm tăng uy tín cho quốc tịch họ mang, mà nói như cách nhiều người hay nói là làm rạng danh cho dân tộc họ. Còn những con người không giữ cho mình một phẩm giá thanh sạch (không tham nhũng, không tàn bạo, không giả dối, không cửa quyền...) hay không giữ sự tôn trọng công cộng (không xả rác, không phá hoại tài sản chung, không chen lấn khi xếp hàng hay tham gia giao thông...) vốn là môi trường sống chung cho người nước mình và khách nước ngoài thì với sự làm ô nhiễm cuộc sống, hô “yêu nước” hay “tự tôn dân tộc” phỏng có ích gì nếu không nói là trơ trẽn. Tôi cũng hoàn toàn nhận thấy nói đến lòng yêu nước hay tự tôn dân tộc có thể làm nhiều con người có thêm nhiệt huyết, sự động viên để cống hiến hơn như trong chống ngoại xâm, trong thể thao, trong tu thân, trong sự đoàn kết và nhiều công việc khác... Vậy thì, khi con người vẫn bị ảm ảnh bởi những khái niệm lâu đời được hình thành bằng cả sự mị dân lẫn sự tin tưởng vào tình yêu nước của nhau đó, bằng sự tự tôn bản thân, hãy góp phần làm cho những khái niệm đó thêm đẹp trong mắt quốc tế thay vì bị cho là mù quáng, dã man, bế quan tỏa cảng. Có vài điểm kỳ lạ tôi thấy ở Trung Quốc. Năm 2004, ở Bắc Kinh, tôi đi quanh quanh tìm một hàng internet công cộng mãi không thấy, hỏi một người lái xe bằng cách lặp lại từ “internet” và cử chỉ gõ bàn phím thì anh ta đưa tôi tới một nơi có vẻ như liên quan đến âm nhạc, chắc anh ta nhầm là tôi đang diễn tả chơi piano. Đành rằng ở Trung Quốc có nhiều con một, có thể có máy riêng ở nhà nhưng đâu phải ai cũng có tiền sắm máy, nối mạng hay đâu thiếu khách du lịch để không cần nhiều hàng internet công cộng. Trong khi, năm 2002 khi tôi bắt đầu tiếp cận với internet, ở Hà Nội, internet công cộng dù vẫn đắt và dùng dial-up chậm rề nhưng đã phát triển nhanh chóng mặt. Khi về phòng xem bóng đá Anh, tôi thấy tên các cầu thủ bị Hán hóa hết. Việc sai tiếng Anh thường xuyên dưới đồng hồ chỉ múi giờ ở khách sạn, trong thực đơn, biển hiệu... ở Trung Quốc thì cũng có ở Việt Nam. Ở Nhật cũng có vậy. Sai chính tả tiếng nước ngoài là chuyện bình thường. Nhưng hì hục Việt hóa hay Nhật hóa chữ chạy tên cầu thủ Anh trong một trận đấu trực tiếp để “giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” thì chưa thấy à nha. Việc lọc quá nhiều thứ bên ngoài qua nhãn quan của nhà cầm quyền Trung Quốc chỉ làm giảm cơ hội tăng kỹ năng sử dụng văn hóa nước ngoài của người dân. Cũng như việc hạn chế internet, hạn chế từ khóa tìm kiếm sẽ làm giảm cơ hội mở mang hiểu biết cùng thế giới, mở mang kỹ năng để thêm cơ hội việc làm cho người dân. Đang xem bóng đá thì chuông điện thoại reo, người đầu dây kia hỏi: “Are you happy?”. “Yes, yes! Thanks!”, tôi vừa nói vừa cảm động về sự quan tâm tận tình này của lễ tân khách sạn. Lát sau, có tiếng gõ cửa. Mở cửa, một cô gái quần sóc, áo pull phồn thực tươi cười dụ dỗ: “Happy? Happy?”. Những người bán hàng Trung Quốc tôi gặp trong chuyến đi tour cũng tận tình chào mời khách hàng như thế, vã cũng nhã nhặn khi khách hàng từ chối như cô cave nọ (không, không có bài học đạo đức tình dục nào ở đây cả :-p). Nhưng phương thức tiếp thị của những người Trung Quốc tôi được gặp thì khiến cho ít khách hàng có khả năng từ chối: Gọi điện hỏi trước rồi đến tận phòng như trên; giới thiệu các giáo sư đầu ngành khám bệnh; cho người hơ tay lên xích nung đỏ rồi bôi Bảo Phú Bảo khỏi ngay; bẻ gẫy chân gà rồi đắp thuốc lát sau gà chạy lon ton; dán miếng bạc lên chỗ đau rồi làm động tác khí công cùng lúc miếng bạc nóng lên; tạo cảm giác cho đoàn như những VIP được các chuyên gia ngọc trai chăm sóc; cho uống thử và dạy cách pha, cách uống thú vị cả chục loại trà; mát xa miễn phí đồng thời giới thiệu thuốc trong lúc khách lim dim tận hưởng; diễn kỹ năng cao cường với những đồ chơi bán dạo trên tàu... Nhiều cách thức của người dân rất mở, phóng khoáng, cốt là để kiếm sống tốt hơn; mà nhiều cách thức của chính quyền lại đóng, hẹp hòi rồi lại nhân danh là để bảo vệ người dân. (Ví dụ nhỏ: Hãy xem bài “Thảo phạt ban tuyên huấn Trung Ương” của giáo sư Tiêu Quốc Tiêu). Như vậy có phải rời xa quần chúng không? Có thể đại diện cho họ và họ có thật sự mong đại diện cho họ không? Lòng yêu nước hay tự tôn dân tộc có thể nằm ở đâu khi người dân thiếu hạnh phúc, bị chính quyền đối xử không tốt, hạn chế quyền mưu cầu hạnh phúc chính đáng trên chính đất nước có chủ quyền của mình? Câu hỏi này cũng dành cho cả chính quyền Việt Nam. (Con s ố m ớ i cho đ ế n cu ố i năm 2008 c ủ a đ ấ t n ướ c 1, 3 t ỷ ng ườ i: 298 tri ệ u ng ườ i dùng internet. T ỷ l ệ kho ả ng 23% dân s ố ) . Về hiểu biết lịch sử Có những người Việt “biết rõ lịch sử các đời vua Trung Hoa” hơn người Trung Quốc như bạn nói. Nhưng cũng có những người Việt và người Trung Quốc không biết mấy về lịch sử Trung Hoa hay Việt Nam. Đơn thuần vì đó không nằm trong mối quan tâm của họ. Việc không thuộc sử cũng không biến nhiều người ở khắp nơi trên thế giới thành những người vứt đi khi họ quan tâm đến các lĩnh vực khác thực tế hơn và sáng rõ hơn. Nếu để ý bạn sẽ thấy hầu như mỗi thể chế chính trị lại viết ra một lịch sử khác nhau và thường nhồi vào những cảm xúc cá nhân về phe phái để phục vụ lợi ích của nó thay vì tôn trọng tính khách quan của học thuật. Với thể chế này, nhân vật lịch sử kia là anh hùng nhưng với thể chế kia, lại là tội đồ. Cảm tử quân với thể chế này có khi lại là tên khủng bố với thể chế kia. Vậy, nên tin vào lịch sử của thể chế nào viết ra? Hay ở thể chế nào thì dùng sử thể chế ấy chấp nhận cho hợp thời? Công việc của sử học là gói gọn hàng nghìn hàng triệu năm, hàng tỷ kiếp người qua vô số sự tam sao thất bản mà vẫn phải cố sao cho đừng bị lệch về phe nào, đừng nhân danh những gì mình không được phép nhân danh. Nói về tác phong học thuật với sự hoài nghi cần thiết khi học lịch sử, sự chịu khó tiếp cận và xử lí chặt chẽ thông tin từ nhiều nguồn, sự chăm tìm sách của những nhà nghiên cứu, biên khảo sử có đẳng cấp, chắc mỗi nước trên thế giới không có đến 1% dân số được như vậy. Cho nên, cả viết sử và đọc sử như để tiếp cận hiện thực đều là việc rất khó. (Nói thêm một chút, thay vì đòi hỏi sự thật, tính khách quan trong nghiên cứu lịch sử, nhiều con người lại đòi hỏi sự thật, tính khách quan trong nghệ thuật. Đến giờ này, trong khi nghệ thuật đi rất xa rồi, đòi hỏi rất nhiều cách tiếp cận mới thì còn vô số người đọc, người xem đánh đồng tác phẩm và đời thực, tác giả và nhân vật. Đòi sự thật ngược chỗ như vậy chẳng phải tạo nên những tâm hồn lệch lạc trong nhận thức? Đó chẳng phải vấn nạn mấu chốt về nhận thức và thẩm mỹ bao đời nay?) Con người ngày càng ảnh hưởng đến nhau theo chiều ngang của thời đại nhờ sự phát triển của truyền thông, bùng nổ thông tin. Những người cùng thời học hỏi, trao đổi kỹ năng; tận hưởng quan hệ, sáng tạo khắp nơi; nâng cấp sản phẩm tiêu dùng để phục vụ, cạnh tranh... hơn là sống mãi theo những quy ước, áp lực từ chiều dọc lịch sử. Bởi chiều dọc lịch sử là nơi mà có khi “cha ông” này của mình giết “cha ông” kia của mình và hai “cha ông” đều nhắn nhủ mình phải trả thù. Chiều dọc lịch sử cũng là nơi mẹ bà dạy ta cái đẹp, điều thiện thì lại thường bị lãng quên, truyền thông không ngó ngàng. Cũng có thể là nơi tổ tiên mình yêu mến nhau, lấy nhau, đã từng khốn khổ vì quốc tịch, giai cấp, biên giới và căm ghét những rào cản đó; nhưng lại bị chính những nhà sử học giả cầy bằng vài dòng trong sách đánh đồng là kẻ thù ở hai phía do cùng bảo vệ những rào cản đó. Romeo và Juliet chẳng phải là một câu chuyện đã “xưa như Diễm” cho thấy sự ngu xuẩn và bi kịch khi áp đặt xung đột lịch sử lên tình cảm tự nhiên của những thế hệ sau hay sao? Học lịch sử là để hiểu tự nhiên, hiểu loài người hơn. Và nếu nhân văn hơn, để tránh những dẫm lại những vết xe đẫm máu. Hiểu biết lịch sử không phải là cái để lấy ra dọa dẫm nhau hay bôi vào mình ánh hào quang của người khác như cách học và sử dụng lịch sử của nhiều người. Với những mục đích nằm ngoài nhu cầu sự thật đó thì họ rất dễ sẵn sàng xuyên tạc lịch sử hoặc không chấp nhận những sự thật mình không thấy thích. Dù là đọc sử nước nào mà hiểu biết hơn, rút ra được những bài học nhân văn thì đều đáng quý vì lịch sử nước nào cũng nhiều vụ đẫm máu cả, lịch sử thế giới thì càng nhiều vụ đẫm máu cho đến tận bây giờ. Về nét Tiếp đến, về việc khó thấy “nét Việt Nam” ở thanh niên Việt Nam, tôi khó có thể trao đổi với bạn nếu bạn không phác ra vài nét theo quan niệm của bạn. Còn nói chung về nét con người thì tôi cho rằng, bất kể hình dáng là thế nào, có mấy nét cơ bản được con người khắp nơi yêu quý (mà tuyên ngôn độc lập nhiều nước cũng nói rồi): “Công bằng, bình đẳng, bác ái”. Và một nét khác cũng rất hấp dẫn: Sáng tạo. Để có được những điều đó, con người luôn phải tư duy, khổ luyện và trải nghiệm. Nhìn những con người như vậy ở bất cứ đâu, tôi luôn thấy bản sắc của cá nhân họ. Những cá nhân đó làm nên bản sắc cho ngôn ngữ họ dùng. Lịch sử bản sắc, lịch sử nhân văn của dân tộc cũng được bắt nguồn từ sáng tạo, tư tưởng nhân văn của những cá nhân; và dầy lên nhờ nhiều sáng tạo, nhân văn của các cá nhân gộp lại, được lưu truyền, thấm nhuần. Nhưng nếu bạn để ý, bạn có thể thấy nhiều người trong những cá nhân sáng tạo, nhân văn ấy sinh thời hoặc trong cuộc đời, thường bị chính quyền gây khó dễ. Đặc biệt, họ còn bị nhiều người dân không quen biết, có khi còn không bao giờ xem qua sáng tạo của họ nhưng vẫn ghét qua sự bôi xấu của truyền thông từ chính quyền. Lấy một ví dụ là đạo diễn Trương Nghệ Mưu (vừa làm tổng đạo diễn cho Olympic Bắc Kinh sau một thời gian không có những bộ phim gây khó chịu cho chính quyền. Thậm chí, bộ phim “Anh hùng” nếu không thuần tính giải trí thì có vẻ chấp nhận tham vọng dùng chiến tranh thống nhất thiên hạ của Tần Thủy Hoàng). Chắc bạn cũng biết Trương Nghệ Mưu thời thanh niên, trong Cách mạng văn hóa đã từng phải đi cải tạo lao động vì lí lịch gia đình. Không ít phim hay của Trương Nghệ Mưu được thế giới công nhận như “Đèn lồng đỏ treo cao”, “Cúc Đậu”, “Phải sống” từng bị chính quyền Trung Quốc cấm. Cũng nên nhắc đến Cao Hành Kiện, nhà văn đoạt giải Nobel đã từ bỏ quốc tịch Trung Quốc để nhập quốc tịch Pháp. Nhiều tác phẩm của Cao Hành Kiện bị cấm lưu hành tại Trung Quốc - những tác phẩm mà ở đó có thể tìm thấy nhiều “nét” Trung Quốc từ phong cảnh đến văn hóa. Vậy, tính tự tôn hay nét dân tộc nằm ở đâu trong thái độ đối xử với những con người sáng tạo ra bản sắc dân tộc như vậy? Liệu nó có gần với sự lành mạnh và trân trọng những giá trị đẹp cho không chỉ dân tộc mình mà cả thế giới? Và liệu có thể dễ dàng nói đến nó khi chưa thể có chính kiến, quan niệm rõ ràng của mình về nó mà chỉ a dua nói lấy được và nặng về sở hữu buồn cười như màu vàng, màu đỏ là màu của Trung Hoa. Con người sinh sống ở mỗi khu vực địa lý hay văn hóa (vùng, miền, quốc gia hay châu lục...) có những nét hình thức và sinh hoạt tương đối riêng. Nhưng ngày càng có nhiều con người dịch chuyển, lấy người nơi khác và sinh con đẻ cái, ly hôn, tái hôn... Một đứa trẻ từ lúc sinh ra hay trong quá trình lớn lên có thể có nhiều dòng máu, nhiều quê, nhiều quốc tịch, nhiều mảnh đất nó yêu mến, nhiều hàng xóm... Càng đi nhiều thì càng mang nhiều nét văn hóa. Nhiều người Việt Nam, Trung Quốc bị bọn đầu trọc đánh cũng chỉ vì chúng ngu xuẩn và bệnh hoạn cố định con người vào cái nét hình thức mơ hồ và đánh những ai có cái nét mơ hồ mà chúng ghét. Nhiều khi chúng ta cũng ghét sẵn những người xa lạ theo cách như vậy. Nói thế này cho nhanh, cứ xem bóng đá bạn sẽ thấy mỗi câu lạc bộ có một nét riêng. Một cầu thủ gia nhập một câu lạc bộ mới thì trong lối đá của cầu thủ đó sẽ có nét của câu lạc bộ mới. Nhưng trong chính câu lạc bộ mới đó lại có thêm nét của cầu thủ mới đó. Hay khi bán cầu thủ đi, thay ông bầu, thay huấn luyện viên, huấn luyện viên thay đổi chiến thuật, cổ động viên đòi hỏi lối chơi khác đi thì nhiều nét của câu lạc bộ cũng thay đổi. Sự phong phú về nét đó làm nên những giải bóng đá hấp dẫn. Cuối cùng, một khán giả sung sướng là một khán giả thưởng thức được những pha bóng hay trong mỗi trận đấu thay vì tâm trí cố nhốt cầu thủ vào nét của một câu lạc bộ nào. Các đời Cộng sản ở các nước xưng danh Cộng sản dù giữ nguyên tên câu lạc bộ là Cộng sản nhưng mỗi nơi một khác, mỗi giai đoạn một khác. Có lúc câu lạc bộ Cộng sản tạo được không ít nét tử tế khi có nhiều cán bộ tài năng, lành mạnh, giản dị, cống hiến, trọng dụng nhân tài (Trương Nghệ Mưu năm 27 tuổi dù quá tuổi vào Học viện điện ảnh Bắc Kinh nhưng khi trực tiếp gặp Bộ trưởng văn hóa lúc đó để giới thiệu những tác phẩm nhiếp ảnh của mình đã được đặc cách). Có lúc lại có nhiều cán bộ vơ vét hơn cả Tư bản, cửa quyền, trụy lạc, triệt tài... phá hủy những nét tử tế kia. Có một điểm thú vị ngay trong ngôn ngữ cho thấy sự cởi mở của con người. Nhiều sự vật/hiện tượng có những nét đẹp, mới được thêm luôn nghĩa là mới, đẹp. Khi hiện đại (modern time) được coi như một thời đại mới, người ta dùng luôn từ hiện đại (mô đen) cho cái gì mới mẻ. Cũng tương tự, khi “có nét” được dùng để nói cái gì chất lượng, người ta nói “cái tivi nét quá” cho mọi cái tivi hình đẹp, “đường chuyền nét vật” cho mọi đường chuyền đẹp. “Nét” có thêm nghĩa là cái hay, cái đẹp, không còn là cái gì khu biệt, bon chen. Chừng nào còn những con người dùng tiếng Việt biết sáng tạo, có tâm hồn đẹp thì Việt Nam còn nét. (còn)
Xem thêm tác phẩm khác →