Làm thế nào để hưởng thụ tốt hơn (tiếp)
iii.
Liên văn bản
Hãy tưởng tượng thế này, trong một tác phẩm, ta gặp một cái tên hoặc một câu trích dẫn, ta nháy chuột (tưởng tượng) vào cái tên hoặc câu trích dẫn đó, nó sẽ đưa ta đến tiểu sử của cái tên hoặc toàn bộ tác phẩm chứa câu trích dẫn hay là cả một danh sách dài những thứ liên quan đến cái tên, trích dẫn đó. Trong danh sách đó lại có vô số đường link khác.
Liên văn bản ngày càng được sử dụng dày đặc hơn, để kết nối tư tưởng và nhiều khi cũng là một hình thức giễu nhại. Liên văn bản là một tính chất văn học hơn là một kỹ thuật hay thủ pháp. Theo sự phát triển của nghệ thuật, tính chất này ngày càng đậm đặc trong các sáng tác và càng chứng tỏ tác phẩm là một sự sinh động và đập phập phồng chứ không là một khối bất biến không mở và không kết nối.
Liên văn bản đòi hỏi văn hóa ở chính độc giả. Ví dụ như với tác phẩm Norwegian wood của Haruki Murakami, nếu độc giả biết đến bài hát cùng tên này của The Beatles, có thể sẽ tìm được sự cộng hưởng nào đó với tiếng nhạc khi đọc những con chữ có vẻ bất động. Rồi có thể, ca từ trong Nowergian wood lại gợi đến tâm trạng nào đó trong Yesterday. Cứ thế, kết nối bất tận. Lại nói đến những tiểu luận của Milan Kundera, nó sẽ là một mớ bòng bong và hũ nút với những ai không có những trải nghiệm về khái niệm “hiện sinh”, các cách tiếp cận tác phẩm hay những hiểu biết nhất định về những thiên tài trong văn học, âm nhạc, hội họa… Càng đọc tiểu luận của Milan Kundera (giúp mở rộng cách đọc rất nhiều) càng thấy hay vì độc giả và tác phẩm trong đầu độc giả đã cùng nhau lớn lên chứ không phải sự nuốt gọn ngay từ lần đầu. Coi tác phẩm hay là phải dễ hiểu, phải gợi ngay sự thú vị là thái độ muốn khẳng định mọi thứ vẫn nằm trong tầm tay chứ không phải thái độ muốn đọc.
Có thể tạm phân loại các dạng liên văn bản như sau:
– Tính liên vă
n b
ả
n ng
ẫ
u h
ứ
ng: Ph
ụ
thu
ộ
c vào tâm tr
ạ
ng và trí t
ưở
ng
tượ
ng c
ủ
a
độ
c gi
ả
. Cái này xu
ấ
t hi
ệ
n
ở
m
ọ
i tác ph
ẩ
m dù là hay hay d
ở
,
ở mọ
i
độ
c gi
ả
dù là t
ố
t hay t
ồ
i.
– Tính liên vă
n b
ả
n ph
ụ
thu
ộ
c vào v
ố
n v
ă
n hóa chung (ch
ư
a nói
đế
n s
ự cùng cấ
p
độ
) nh
ấ
t
đị
nh c
ủ
a
độ
c gi
ả
và tác gi
ả
. Ví d
ụ
nh
ư
nh
ữ
ng hi
ể
u
biế
t v
ề
âm nh
ạ
c Châu Âu c
ủ
a
độ
c gi
ả
đọ
c ti
ể
u lu
ậ
n “Nh
ữ
ng di chúc b
ị phả
n b
ộ
i” c
ủ
a Milan Kundera s
ẽ
giúp c
ộ
ng h
ưở
ng t
ố
t h
ơ
n v
ớ
i tác ph
ẩ
m.
(Cái này tôi dố
t nên nhi
ề
u
đ
o
ạ
n trong tác ph
ẩ
m v
ẫ
n còn là m
ộ
t cánh
cử
a
mớ
i ch
ỉ
hé m
ở
).
– Kỹ
thu
ậ
t liên v
ă
n b
ả
n (th
ườ
ng dùng
để
gi
ễ
u nh
ạ
i ho
ặ
c c
ộ
ng h
ưở
ng t
ư
t
ưở
ng, ví dụ như những câu thơ chưa rõ tác giả ở phần
ii
)
.
iv.
Bình thường hóa cái bất bình thường
(có thể được gọi bằng những cái tên khác như “hiện thực huyền ảo”, “hiện thực thần kỳ”, “phi lí”…)
Ví dụ cho tính chất/kỹ thuật này là những câu chuyện nghe có vẻ dị thường mà lại xảy ra như không, như thường xuyên. Đó là những “tính chất” như trong “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng Linh, gặp, ăn, ngủ với ma như cơm bữa. Đó là những “kỹ thuật” như sự sắp xếp các cuộc gặp gỡ giữa con người với các quái thú, những con vật khổng lồ, biết nói, rồi giao tiếp với nhau một cách bình thường, thậm chí, còn nói và cùng làm những chuyện hết sức nghiêm túc. Những “kỹ thuật” này xuất hiện đặc biệt nhiều trong truyện tranh, phim hoạt hình và các dạng phim hài, siêu nhân, dị nhân… Những sự “bất bình thường” này có thể được lí giải (như chuyện “Chó bay” của Paul Jennings kể về một người thấy chó bay, về sau, hóa ra con chó được buộc vào thanh chắn tàu); nhưng cũng có khi, nó được bình thường hóa triệt để và không cần giải thích (như trong “Cậu ếch cứu Tokyo” của Murakami, chính Paul Jennings cũng có nhiều truyện “lạ” không có giải thích), mục đích của câu chuyện không phải là đi đến một kiến giải bất ngờ về hiện tượng mà để triển khai tiếp cái gì xảy ra tiếp theo hiện tượng đó. Những câu chuyện này như trò chơi của trí tượng tượng, cũng như rủ rê những độc giả có trí tưởng tượng suy nghĩ về mọi thứ một cách tự do hơn và suy nghĩ về tự do, sự thật một cách nghiêm túc hơn.
Tinh thần của thể loại này là: Những gì ta không biết/không thấy không có nghĩa là không tồn tại. Tinh thần này có thể tìm thấy trong các bài giảng của thiền sư Thích Nhất Hạnh về linh hồn những người chết trận hay bài thơ (mà có người nói là ẩn ý về vũ khí hủy diệt ở Iraq?) của “chiến binh” Donald Rumsfeld:
The Unknown
As we know,
There are known knowns.
There are things we know we know.
We also know
There are known unknowns.
That is to say
We know there are some things
We do not know.
But there are also unknown unknowns,
The ones we don’t know
We don’t know.
—Feb. 12, 2002, Department of Defense news briefing
Nguồn:
http://www.slate.com/id/2081042/
Tạm dịch:
Điều không biết
Như chúng ta đã biết
Có những hiểu biết được biết
Có những điều chúng ta biết là chúng ta biết
Chúng ta cũng biết
Có những hiểu biết không được biết
Thế mới nói
Chúng ta biết có những điều
Chúng ta không biết
Nhưng có cả những điều không biết không được biết
Những điều chúng ta không biết
Là chúng ta không biết
(còn)
Nguồn hình minh họa:
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/d/dd/Cubicwatermelon.jpg
Bài gốc đăng tại: wordpress ↗