← Tác phẩm
Tùy bút · Sáng tác: 25 tháng 10, 2009
Tính thơ 2 | Ý tưởng (trích tiếp nữa)
3. Nhận diện ý tưởng trong văn học - Trong văn học thì nội lực ý tưởng và nội lực hình ảnh tương đối gần nhau, có khi đan xen, có khi trùng khít nhau. Bởi vì: Văn học gắn nhiều với chữ, mà con người lại học chữ thông qua việc nhớ các hình ảnh (cụ thể hoặc trừu tượng) gắn với tên gọi, tên gọi lại được mã hóa thành chữ. Khi đọc chữ lên, tên gọi gắn với chữ được bật lên và hình ảnh liên quan âm gọi đó xuất hiện. Ví dụ một đứa trẻ sẽ học chữ “bà” bằng cách nhìn hình ảnh của bà, ghi hình ảnh đó vào não và tiếp tục ghi âm “bà” mà người ta dạy nó gọi lên hình ảnh vừa ghi. Khi nó gọi, đọc thầm âm “bà” thì hình ảnh bà đã được chữ hóa sẽ hiện ra. Trải nghiệm của nó với những từ “bà” trong những bối/văn/ngữ/hoàn cảnh khác, những người bà khác sẽ khiến chữ “bà” trong óc đứa trẻ mang một văn hóa mênh mông, gồm cả những cảm thức chung về chữ “bà” như những đứa trẻ khác và những cảm thức của riêng nó. Có thể thấy mỗi chữ trong đầu mỗi người gắn với vô số hình ảnh, trải nghiệm liên quan. Mỗi chữ như là một chiếc túi thần không đáy của Đôrêmon; một viên Capsule nhỏ xíu chứa nhà cửa, đồ đạc trong “Bảy viên ngọc rồng”; một quân bài ngửa ra là quái thú hiện lên trong “Vua trò chơi”. Chính vì thế, để cảm nhận hình ảnh trong văn học, nhất là hình ảnh trong thơ, phải huy động nhiều tư duy trừu tượng. Để cảm nhận ý tưởng trong hình ảnh trong thơ, nhiều khi phải huy động những logic trừu tượng và tìm hiểu văn hóa của tác giả. - Thơ thường là hình thức mà khi sự nhào trộn hình ảnh và tư duy trong não con người đạt đến độ chín, độ nén sẽ bật ra thành chữ. Khi đó, hình ảnh thơ không đơn thuần là hình ảnh được qui ước nhận diện trong giao tiếp thông thường mà nó ẩn chứa rất nhiều cảm nghiệm vốn là những kết hợp có thể tạo nên ý tưởng. Lại nói về câu “Khi trái quýt buôn lậu cái chết” của Bắc Đảo. Ở phân tích về yếu tố hình ảnh trong giá trị nghệ thuật, nó đã được xếp vào dạng hình ảnh. Nhưng còn rất nhiều điều có thể nói về ý tưởng ẩn trong nó. Nhiều khi, phải chạm được tới văn hóa riêng, mạch cảm xúc riêng của tác giả để thấy một hình ảnh xa lạ nở ra như một bông hoa ý tưởng. “Khi trái quýt buôn lậu cái chết” là một câu đòi hỏi phải có một tư duy trừu tượng cao cấp, có rèn luyện để cảm thụ. Và bên cạnh cảm thụ trực tiếp, nếu muốn hiểu phần nào lí do (ý tưởng thường cần một lí do) nó được thốt ra, ít nhất, cần đọc nó trong văn cảnh của bài thơ và có thể còn xa hơn, hệ thống tác phẩm, tiểu sử tác giả... Ở đây, mặc dù không muốn đi lan man nhưng để gợi ra cảm giác rõ hơn về bản chất của ý tưởng, tôi buộc lòng phải phân tích sâu hơn về câu “khi trái quýt buôn lậu cái chết” của Bắc Đảo (xin nhấn mạnh cụm “của Bắc Đảo”) trong bài “Ghi chép” của ông. Việc tạo ra một cụm như “khi/trái quýt/buôn lậu/cái chết” không khó. Có thể dùng phương pháp chia đoạn rồi dùng cách find & replace như của máy tính để thay thế những từ ngẫu nhiên vào nội dung vô số bản tin, tác phẩm đã có. Ví dụ, có thể thay “Trần Văn A” bằng “trái quýt”, “thuốc phiện” bằng “cái chết” trong một mẩu tin: “khi/Trần Văn A/buôn lậu/thuốc phiện”. Hoặc có thể chỉ thay “Trần Văn A” bằng “thuốc lá”, sẽ có câu “khi thuốc lá buôn lậu thuốc phiện”... Có thể dùng máy để tạo ra vô số những biến thể như vậy với vô số câu đã có hoặc ghép ngẫu nhiên vô số từ, cụm từ với nhau để tạo nên những câu kỳ dị. Cách “làm thơ”, “vẽ tranh” lắp ghép như vậy là một ý tưởng. Các sản phẩm lắp ghép máy móc mà ý tưởng đó tạo ra cũng có thể gợi hứng rất nhiều vì chắn chắn nó sẽ thú vị hơn vô số những sản phẩm nhàm chán và không kém phần máy móc của rất nhiều tác giả. Thậm chí, chúng vượt trội những cách lắp ghép máy móc của không ít người muốn làm lạ nhưng không có nội lực. Có một tác giả là Bàn Tải Cân đã triển khai ý tưởng lắp ghép này thành thơ máy. Đó là một phần mềm để mỗi lần nhấn Enter có thể có ngay một câu thơ lắp ghép (lục bát, 7 chữ...; nhái giọng Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Bùi Giáng...). Như vậy, sáng tác bằng máy đã thành ý niệm, ý niệm này đã được triển khai thành tác phẩm. Thơ máy đã thành một bức tường phân biệt những người sáng tác có thể trèo qua và không thể trèo qua. Về mặt lí thuyết, hoàn toàn có thể trèo qua bức tường ý niệm này vì các sản phẩm nó tạo ra không đúng nghĩa là một Cấu Trúc, nghĩa là chưa có được độ phức tạp và logic trong liên kết - cái vẫn được gọi là có hồn. Vì vậy, không có gì phải tuyệt vọng về tương lai sáng tác khi con người chắc chắn thua máy trong năng suất làm những “câu thơ”, vẽ những bức tranh như vậy. Bởi không có logic nội tại (của tư duy), không có mạch cảm xúc cũng như tư tưởng, mỗi bài thơ do máy làm ra sẽ không thể tự tạo ra một ý niệm riêng, như vậy, không vượt thoát khỏi cái ý niệm làm ra chúng. Máy móc rất dễ dàng làm ra những câu như “khi trái quýt buôn lậu cái chết”, “vì mặt trời cắn rốn tương lai”, “nắng ăn mưa thở thịt luộc xanh lá cải”... hay như một vài câu có vẻ “rất người” do Thơ máy của Bàn Tải Cân làm ra: “Trong ta xoa nhẹ hương nhài/ Nhạt phai xa vắng Tuyền Đài bàn tay/Thiên hà phong cảnh tháng ngày/ Cạn bầu hóa kiếp gió mây đâu tìm/Trong tay say đắm hoa sim/Miệt mài tuyệt vọng cánh chim sinh tồn/Buồn tênh tình tự hoàng hôn/Năm tao bảy tuyết cô đơn học trò (Có thể thử tại đây: http://www.tinhvan.com/scripts/tvis/games/tho/tho.pl). Nhưng tại sao “khi trái quýt buôn lậu cái chết” của Bắc Đảo được coi là một ý tưởng trong khi “khi trái quýt buôn lậu cái chết” của máy thì không? Cái hay là cái hay, có cần câu nệ giữa người và máy, không có ý thức và có ý thức, vô danh và tên tác giả? Hãy cùng tiếp tục khảo sát câu “khi trái quýt buôn lậu cái chết” trong bài “Ghi chép” của Bắc Đảo. Ghi chép khi trái quýt buôn lậu cái chết đàn ông tụm năm tụm ba nói về vàng đang ngủ ở những vùng xa và đàn bà, cảnh sát gõ lên cánh cửa ngày mai con đường quay mình đối chiếu lại niên đại lịch sử nhưng lỗi lầm không thể tránh khỏi: bài thơ đã ra đời (Lê Đình Nhất-Lang dịch Trúc-Ty hiệu đính) Có một khác biệt đáng kể so với ở những loại hình khác là ý tưởng trong ngôn ngữ thơ (hội họa) có những lúc khá/rất trừu tượng nên những người không có hoặc không đeo đuổi việc rèn luyện tư duy trừu tượng sẽ không phân biệt được thật, giả, thứ nào là cắt ghép vô hồn, máy móc và thứ nào mang một logic nội tại. Đằng sau cụm hình ảnh “khi cái chết buôn lậu cái chết” được nảy ra thành ý tưởng là một cảm nghiệm rất mạnh (sự tươi rói của trái quýt – cuộc sống – gắn với việc ngầm lưu thông cái chết?). Phần tiếp theo trong bài triển khai những gì dấp dính với cảm nghiệm đó bằng những câu giảm độ trừu tượng, gợi sự thản nhiên, ham muốn vô tư, tầm thường của con người (dòng 2, 3); gợi ra điều dường như quen thuộc, đe dọa, nhập nhằng (dòng 4); khát vọng trong suy nghĩ, tiên cảm (dòng 5, 6), suy nghiệm về thơ ca (7, 8: Thơ ca như những nhân chứng của hiện sinh). Những điều đó tạo nên một mạch cảm xúc kết dính khiến bài thơ có tri giác của con người mà không phải những lắp ghép máy móc. Cái cảm nghiệm rất mạnh đã đẩy ra câu “khi trái quýt buôn lậu cái chết” chính xác là cái gì? Bắc Đảo đã nhìn thấy một trái quýt, trông nó có gì đó gợi về một gã buôn lậu ông từng gặp và hắn mang hơi thở của cái chết? Hay chỉ đơn giản là Bắc Đảo đang và cơm, cắn phải hạt sạn, nó lan ra một mùi, vị nào đó và thúc đẩy câu này đột ngột hiện ra? Đó chỉ là hoàn cảnh gợi hứng, dẫu kể lại hoàn cảnh mình viết nó ra, bản thân Bắc Đảo cũng không biết trọn vẹn cái gì thực sự đã thúc đẩy viết lên nó. Vậy làm sao phân biệt được đó là cảm nghiệm thực sự hay Bắc Đảo đã chơi trò find & replace? (Sẽ ngày càng có nhiều phép thử find & replace như thế. Ví dụ Phép thử mà Nguyễn Đức Tùng đặt tên đồng với tên của tác giả Xanh Melan mà bạn có thể dễ dàng tìm thấy qua google). Chỉ có thể dùng cảm nghiệm của mình. Và việc cảm nghiệm được đến đâu phụ thuộc vào việc độc giả gần hiện sinh của Bắc Đảo đến đâu: Thói quen tư duy trừu tượng; quá trình thử các cách làm thơ; quan sát chăm chú; trải nghiệm về đàn bà; sống cùng (hoặc hiểu về) những dạng cảnh sát đàn áp, lịch sử đẫm máu; những khát vọng dân chủ... và hiểu cái gì tạo nên thơ. Với cá nhân tôi thì “Ghi chép” không phải là bài thơ quá hay nhưng rất có không khí. “Khi trái quýt buôn lậu cái chết” nếu là một câu thơ của máy thì nó sẽ tạo nên một thích thú nhất định, tính giải trí cao (gợi một hình ảnh hoạt hình vui nhộn) nhưng không gợi tò mò tìm hiểu những thân phận như câu của Bắc Đảo (gợi cái gì đó sâu lắng). Khi “Khi trái quýt buôn lậu cái chết” là một câu thơ của Bắc Đảo (cũng như khi biết “mặt trời tô màu tím” là của ai) thì nó sẽ tạo nên nhiều câu hỏi: Nó đóng vai trò gì trong mạng lưới bài thơ chứa nó? Nó đóng vai trò gì trong mạng lưới thơ, mạng lưới văn hóa của Bắc Đảo?... Mà mỗi khi ta đọc một bài thơ khác, một thông tin khác về Bắc Đảo, ta lại có thêm một mảnh ghép trong bức tranh tác phẩm, bức tranh con người Bắc Đảo. Dù có thể phần tranh ta có vẫn rất nhỏ bé và nhầm lẫn nhưng sẽ có phần giúp chạm vào sâu hơn các tác phẩm của ông, sự biến tấu của ông và thấy cách tiếp cận thế giới ở trong đó. Có những dạng tác phẩm không cần biết tác giả là ai thì khán giả vẫn có thể cảm thụ trọn vẹn (như bài “Ca dao ngược”) nhưng có những dạng tác phẩm mà càng biết nhiều thông tin về nó và quanh nó, càng có thể cảm thụ được sâu hơn (như chính bài “Ghi chép”). Thậm chí, có những tác phẩm mà thiếu những thông tin tác giả, tiểu sử, bối cảnh, không thể nắm bắt được ý tưởng. Ví dụ câu “Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin” nếu không nắm được nó là của Tố Hữu và dùng với mục đích ca ngợi Stalin ở thời đang thịnh thì có lẽ độc giả không hiểu gì cả. Tư tưởng của câu này vô cùng ấu trĩ nhưng phải nói đó là một ý tưởng quảng cáo tuyệt vời cho nhãn hiệu Stalin như một nhãn sữa: Một đứa trẻ lần đầu tiên nói thay vì gọi bà, gọi ba thốt ra một từ ba âm tiết vô cùng khó. Câu thơ và lời bình như vậy được lưu truyền khá rộng dù với sự giễu cợt hoặc cay đắng thì chắc chắn có phần vì ý tưởng của nó quá ấn tượng.
Xem thêm tác phẩm khác →