Từ thế kỷ 14-15, Việt Nam đã có Nguyễn Trãi đạt đến đỉnh cao của tư tưởng kỹ trị nhân văn và yêu chuộng hoà bình. Kiệt tác “Bình Ngô đại cáo” của ông là minh chứng rõ nhất cho điều này.
Ngay sau khi chiến thắng quân xâm lược thì mở đầu bản “tuyên ngôn độc lập” này là:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Nghĩa là: Mục đích của mọi hành động nhân nghĩa là giúp dân có cuộc sống bình yên
Việc xuất quân là để trừ kẻ bạo ngược.
Đây là lời khẳng định mong muốn sống hoà bình, yên dân và chỉ bất đắc dĩ chiến đấu khi phải trừ bạo.
Và đây là cách sống, lẽ sống được chính phủ Đại Việt phát biểu trước toàn dân năm 1428:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo”
“Đại nghĩa” và “trí nhân” được đề cao để đánh bại “hung tàn” và thay thế “cường bạo”. Một dân tộc đại nghĩa và trí nhân mới có đủ sức mạnh chiến thắng và kiến tạo hoà bình.
“Bình Ngô đại cáo” cũng là một kiệt tác văn chương, không chỉ là một bài cáo hoàn hảo mà còn là một bài thơ tự do tuyệt đẹp, bút pháp bậc thầy.
Đến thế kỷ 18 thì có Nguyễn Du đạt tới đỉnh cao của thi ca duy mỹ, duy cảm qua “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều).
Như:
“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
“Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
Hai đỉnh cao tác giả, tác phẩm này đã được tôn vinh qua nhiều thế hệ và giảng dạy như “quốc hồn quốc tuý” trong SGK từ lâu. Nên về mặt tư tưởng hoà hợp đạo trời và tính thẩm mỹ cao, nhiều người Việt Nam đã thấm nhuần.
Còn rất nhiều con người, tác phẩm tinh hoa khác đã được ghi nhận, thưởng thức và phổ biến trước và sau hai đại thi hào này.
Vậy nên không đổ lỗi là Việt Nam chưa có tư tưởng xịn, chưa có tác phẩm đỉnh nhé :” p