Khả năng (tiếp)
1. Khả năng ghi nhớ (trí nhớ): Gồm nhớ hình, nhớ tiếng, nhớ mùi, nhớ vị, nhớ cảm giác.
Kể lại được y nguyên một câu chuyện vừa nghe là khả năng nhớ tiếng. Nếu đọc xong một truyện trên giấy mà nhớ cả vị trí dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than thì là nhớ cả hình mình đã đọc. Những đứa trẻ có thể đọc báo vanh vách mà không cần đánh vần hay hiểu nghĩa chính là vì chúng có khả năng nhớ hình rất tốt. Mỗi chữ/từ là một hình vẽ mà chúng có thể nhớ và học vẹt bằng cách bắt chước người khác gọi tên các hình vẽ đó. Đây có thể là dạng thần đồng thiên về hội họa chứ không phải ngôn ngữ.
Trong khi mắt con người có thể nhắm và có nhiều thời gian nhắm khi ngủ thì đôi tai luôn mở, ít được nghỉ ngơi hơn, bị ô nhiễm âm thanh nhiều hơn. Cùng với những vận động âm thanh trong tai trong, trong não (như khi mắt nhắm thì hình ảnh vẫn hiện lên qua tưởng tượng, những giấc mơ) con người luôn bị “tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi” (Trịnh Công Sơn). Người nào có trí nhớ âm thanh càng tốt thì những nhịp này càng gõ ác và nguy cơ bị mệt mỏi, stress càng lớn.
Với nhiều công cụ lưu trữ, tìm kiếm thông tin như hiện nay, khả năng nhớ hình và nhớ tiếng không còn quá quan trọng so với các khả năng khác. Nhưng nó vẫn luôn cần thiết cho phản ứng nhanh và khá cần thiết cho nghề nhạc, họa.
Trong khi các giác quan nghe, nhìn, ngửi, cảm giác có thể tiếp cận khá rõ ngoại vật ở phạm vi rộng, từ xa thì lưỡi bị nhốt trong vòm miệng. Và nếu không có những vị đặc biệt nặng trong không khí hay làm một số hoạt động bên ngoài thì lưỡi chỉ có thể nhận biết (hoặc con người chỉ có thể nhận biết là lưỡi của mình đang nhận biết) quanh quanh lãnh thổ nhỏ bé của mình. Nhưng nó lại là vua của lãnh thổ đó khi xử lí thông tin về thực phẩm - một trong những nhu cầu sinh tồn cơ bản nhất. Khả năng nhớ vị làm cho con người thường sung sướng khi hồi tưởng và thưởng thức được tối đa các món ngon (nhưng cũng khổ cho người tinh tế quá trước các món không ngon khi luôn có một kho dữ liệu để so sánh). Qua cảm giác không thoải mái của lưỡi (nhạt miệng, đắng miệng) cũng có thể biết được nhiều về tình trạng sức khỏe.
Khả năng nhớ mùi vô cùng quan trọng. Mùi quyết định rất nhiều đến sự ngon miệng, cảm xúc. Mùi giúp khơi gợi nhiều ký ức. Mùi, vốn lan nhanh trong không khí, cũng giúp định hướng. Người mù bẩm sinh nhìn bằng tai, bằng sờ nắm, bằng vị và đặc biệt bằng mùi. Nói chung mùi lưu trữ rất nhiều thông tin về sự vật/hiện tượng: Mùi khét báo hiệu có vấn đề ở tầng dưới, mùi mưa, mùi máu, mùi quần áo bẩn... Đọc cuốn “Mùi hương” của Patrick Suskind có thể thấy chỉ riêng thế giới mùi đã rộng lớn và có thể tạo ra hạnh phúc thế nào.
Khả năng nhớ cảm giác chính là cái khiến ta sợ sợi dây thừng khi tưởng nó là con rắn. Khả năng này cũng khiến khi bị bịt mắt và yêu cầu nhấc chiếc cốc lên, lần 1, ta sẽ ghi nhớ cảm giác về nó. Đến lần thứ 2, vẫn bị bịt mắt, trí nhớ cảm giác đưa ra một lực nhấc hợp với trọng lượng của nó. Nếu lần thứ 3 khi vẫn bị bịt mắt và chiếc cốc cũ khá nặng bị đánh tráo bằng một chiếc cốc nhẹ bẫng mà bề mặt giống chiếc cốc cũ, theo trí nhớ cảm giác cũ và niềm tin đó là chiếc cốc cũ, ta sẽ bị hẫng tay. Khả năng nhớ cảm giác giúp dựa trên kinh nghiệm dự báo tương lai gần nhưng cũng có thể gây ra sự bảo thủ, tham vọng lấy quá khứ làm tương lai dẫn đến việc nhấc hẫng chiếc cốc mới. Nói cách khác, nếu lạm dụng kinh nghiệm cảm tính thì sẽ biến nó thành một sự kiểm soát tương lai bằng lí tính, sẽ tạo thành định kiến, thiên kiến hoặc những thường kiến sai lệch.
Khả năng nhớ cảm giác cũng là một bộ phận quan trọng của khả năng điều khiển cơ thể và ngoại vật sẽ được kể đến sau này.
Nói chung, khả năng nhớ giúp con người có một một kho dữ liệu luôn sẵn sàng cho việc rọi lại quá khứ, dự đoán tương lai, nắm bắt xác suất thông qua phân tích, tổng hợp.