← Tác phẩm
Tùy bút · Sáng tác: 2 tháng 4, 2007
Linh tinh về ngôn ngữ
I. Vài nét về ngôn ngữ và sự sử dụng ngôn ngữ. 1. Ngôn ngữ được học nhanh và nhiều nhất dựa trên nhận thức về bối cảnh mà nó được phát âm. Một đứa trẻ học nói bằng cách bắt chiếc những sinh hoạt phát âm quanh nó, nó vô thức nhận thấy mỗi sự/mỗi cách phát ngôn tương ứng với sự vật/hiện tượng gì. Có những sự nhầm lẫn (một ví dụ kinh điển là câu chuyện về một người vào nhà hàng gọi bừa một món lại đúng món không hợp khẩu vị, chợt nhìn sang bàn bên thấy có người ăn món mình thích, ăn xong, người bàn bên gọi “bis, bis”, món ngon đó lập tức được bưng ra, ông ta cũng gọi “bis, bis”, kết quả là nhận được thêm một suất ý hệt, người chưa đọc ví dụ này cũng có thể đoán ra bis là gì). Nhưng những sự nhầm lẫn trong nhận thức về bối cảnh đó không đáng kể so với những nhận thức tương đối chính xác. Qua mỗi câu chuyện về sự nhầm lẫn, chúng ta lại có thêm kinh nghiệm về sự đào sâu và hoài nghi trong nhận thức về bối cảnh . 2. Ngôn ngữ là minh chứng hào hùng nhất rằng con người có nhiều cảm nhận chung về nhiều sự vật/hiện tượng (có lẽ vì cấu tạo chung giống nhau nên hệ cảm nhận có nhiều điểm tương đồng). Con người ở nhiều nơi trên thế giới hay ở các dân tộc trong một quốc gia có nhiều cách gọi tên sự vật, hiện tượng bằng ngôn ngữ của mình. Và khi tiếp xúc với một ngôn ngữ khác, con người vẫn có thể học và hiểu bằng cách đặt những từ biểu hiện sự vật/hiện tượng của ngôn ngữ khác chồng lên vị trí của từ biểu hiện sự vật/hiện tượng đó trong ngôn ngữ quen thuộc của mình. Tuy nhiên, những sự đặt chồng vị trí đó không phải lúc nào cũng trùng khít, nhất là với những từ đa nghĩa và có tính văn hóa vượt trội . Hãy hình dung một cách trừu tượng: những từ đa nghĩa và có tính văn hóa vượt trội nằm ở nửa trên bảng xếp hạng sức huy động cảm xúc nơi những người dùng của mỗi từ . Chúng ta có thể dễ dàng chấp nhận flower là bông hoa , one là một , nhị là hai . Desk là cái bàn , nhưng phân biệt nó với table là một chuyện khó hơn. Khó hơn nữa đối với người Việt là phân biệt giữa miss (nhớ nhau…) và nostalgia (hoài cổ, hoài hương…); cũng như người không thạo tiếng Việt không dễ phân biệt, tìm ra điểm chung và dùng đúng bối cảnh những từ yêu, nhớ, thương, quý . Nếu dành thời gian tìm tòi thì có lẽ, chúng ta đều có thể thấy vốn từ vựng của mỗi loại ngôn ngữ đều không đủ để dịch toàn bộ vốn từ vựng của một ngôn ngữ khác. Vốn từ của mỗi ngôn ngữ còn hàm chứa cả chất văn hóa mà mỗi từ chứa đựng, hấp thụ và tỏa ra. Ngôn ngữ nào có khả năng dịch ngôn ngữ khác (mà vẫn truyền tải được bối cảnh văn hóa của nghĩa và nhạc tính của mỗi từ, cụm từ, câu trong ngôn ngữ được dịch) tốt hơn, ngôn ngữ đó ưu việt hơn. 3. Ngôn ngữ chỉ là sự phóng chiếu. Con người có thể hiểu nhau thông qua ngôn ngữ nhưng tất nhiên là không hoàn toàn hiểu và có nhiều cấp độ hiểu khác nhau. Bởi cấu tạo có nhiều điểm chung nên con người vẫn có thể tìm thấy sự đồng cảm (xúc) qua nhiều cách gọi tên, vẫn có thể cảm nhận cảm xúc của người khác dù cách gọi tên có thể mang nhiều khiếm khuyết. Tuy nhiên, sức cảm nhận được cảm xúc của người khác rõ ràng hay mờ nhạt, mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào mức bẩm sinh khác nhau của mỗi sự nhạy cảm, cấp độ mở rộng sự nhạy cảm trong mỗi người thông qua sự tiếp nạp văn hóa và cả sức “chịu đựng” cảm xúc của người khác (đôi khi, vì không chịu đựng nổi nỗi đau của người khác mà ta phải lảng tránh nó và rơi nhẹ hoặc tõm phát vào trạng thái vô cảm). Ngoài ra, có những ngoại lệ về cấu tạo cũng như hệ cảm nhận khiến những cá nhân nằm trong những ngoại lệ đó không phát triển về kỹ năng ngôn ngữ theo cách: ngày một diễn đạt sự vật/hiện tượng tốt hơn trong khối ngôn ngữ chung của cộng đồng . Nhưng chính những cá nhân này (với không ít những khả năng kỳ lạ về ngoại cảm, hội họa, âm nhạc…) giúp con người đặt ra câu hỏi: Tiếng nói quả là một phương tiện giao tiếp tương đối ưu việt nhưng liệu có những hệ giao tiếp nào ưu việt hơn tiếng nói mà tiếng nói đã dùng sự ngạo mạn của nó lấp liếm đi? (còn nữa)

Bài gốc đăng tại: wordpress

Xem thêm tác phẩm khác →